| Tác giả |
Chia sẻ chủ đề Chủ đề Tìm kiếm Lựa chọn chủ đề
|
dyelvn
Điều hành
Gia nhập: 19 Dec 2009
Trạng thái: Offline
Bài viết: 695
|
Tùy chọn bài viết
Trích dẫn Trả lời
Chủ đề: Kỳ án ánh trăng Đăng: 10 Mar 2010 vào lúc 8:35pm |
Chương 9 Ánh trăng, ánh trăng là gì?
|
Hàng ngày đến làm việc,
Lục Bỉnh Thành thường đi cầu thang lên tận tầng 15 chứ không đi thang máy. Ông
có ý muốn rèn luyện thể lực. Tuy đã gần năm mươi nhưng năm nào ông cũng dự thi
rèn luyện thân thể, ông là quán quân chạy đường trường của cán bộ viên chức tuổi
trung niên trong giáo giới. Từ xa ông đã nhìn thấy một nữ sinh đang đứng đợi
ông ở cửa phòng làm việc, đó là Chu Mẫn. Trông vẻ lo âu của cô, ông biết ngay là
có chuyện không hay. Ông rảo bước đến nơi bảo Chu Mẫn vào phòng. “Em phải
thưa với thầy Thành một việc này: Diệp Hinh đi biệt tăm hai hôm, chiều qua mới
về. Chúng em hỏi đi đâu, thì Hinh nhất quyết không nói. Em định sớm đến báo cáo
với thầy, nhưng lại nghe nói thầy đang đi công tác ở Nam Kinh”. Ông Thành gật
đầu: “Đúng thế. Mấy hôm trước tôi và thầy Nghê hiệu trưởng đi Nam Kinh dự hội
nghị của Bộ Y Tế về vấn đề cải tiến giáo trình trường Y. Nhưng tôi cũng đã biết
việc này, thầy Lý chủ nhiệm lớp các em nghe em báo cáo xong, đã gọi điện đến Nam
Kinh báo ngay cho tôi biết. Sự việc khá nghiêm trọng, nên tôi đành bỏ dở hội
nghị quay về để giải quyết. Em hãy nói cụ thể đi!” Mẫn rất cảm kích đón lấy
tách trà thầy Thành bưng cho cô, cô ngồi xuống ghế sô pha dành để tiếp khách:
“Chuyện là thế này ạ, buổi sang cách đây ba hôm, Hinh đến phòng bảo vệ của
trường, và chiều hôm đó chúng em thấy Hinh chuẩn bị balô hành lý, rồi vội vã rời
ký túc xá. Em bèn đi theo. Ra khỏi cổng trường, Hinh lên tắc xi đi luôn. Bí quá
em cũng gọi tắc xi bám theo, đi đến tận ga tàu hỏa. Em thấy Hinh xếp hang mua vé
đi tuyến Thượng Hải - Hàng Châu, đoán rằng bạn ấy đi về nhà. Em định đến can
ngăn nhưng lại nhớ đến lời thầy dặn “chớ nên đánh động”; em định lên tàu bám
theo, nhưng lại e sẽ rất bất nhã. Sau khi thấy Hinh lên tàu rồi, em vội trở về
báo cáo với thầy Lý” Bỉnh Thành cảm kích nhìn Chu Mẫn: “Em là một cán bộ lớp
tốt, biết quan tâm đến các bạn, đã hỗ trợ rất nhiều cho công tác giáo viên của
chúng tôi. Tôi nhờ thầy Lý liên lạc với mẹ của Hinh, và biết rằng bạn ấy không
về nhà. Tôi gọi điện hỏi phòng bảo vệ, họ nói đúng là hôm nọ bạn Hinh có vào gặp
họ, muốn hỏi các sự việc về “vụ án mưu sát 405” nhưng họ không tiếp. Tối qua
phòng bảo vệ còn gọi điện báo cáo tôi rằng phòng trinh sát hình sự công an huyện
Nghi Hưng đã gọi điện đến trường, còn nói là không rõ vì nguyên nhân gì, họ đã
tiếp xúc với Diệp Hinh!” Mẫn hết sức kinh ngạc, trầm trồ rất chân thành:
“Hiệu suất công tác của thầy thật kỳ diệu! Thầy nắm vững sự việc từng chi tiết ở
xa ngàn dặm!” Vẻ mặt thầy Thành thoáng nét ưu tư: “Thì còn cách nào khác? Bao
năm nay phụ trách công tác sinh viên, hằng năm cứ đến dịp này tôi lại thấp thỏm
không yên. Tuy nói “vụ án mưu sát 405” không phải là vụ mưu sát thật sự, và tất
nhiên không ly kỳ như vẫn đồn đại, nhưng tôi đã chứng kiến vài cô sinh viên có
vấn đề tâm thần đã chọn cách ra đi như thế lòng tôi không thể không trĩu nặng.
Mấy năm gần đây, hễ chớm thấy một vài dấu hiệu nảy sinh, tôi đều gắng tìm cách
phòng ngừa tai họa. Nhưng các giáo viên chúng tôi đâu phải thần thông quảng đại
ba đầu sáu tay gì cho cam! Chúng tôi rất cần sự hợp tác của các nòng cốt sinh
viên như các em!” “Giúp đỡ bạn cũng là bổn phận của chúng em ạ”. Bỉnh
Thành chợt nhớ đến một chi tiết: “Hôm nọ em thấy Diệp Hinh đi một mình hay là đi
với ai?” “Đi một mình ạ!” “Em nhìn đúng thế chứ?” “Em có thể khẳng định
là chỉ có một mình Hinh xuống tắc xi rồi vào mua vé tàu, qua cửa soát vé. Nhưng
có ai chờ gặp Hinh ở sân ga không thì em không rõ!” “Tôi nhớ lần trước bạn
Mẫn nói: các bạn nghĩ hình như bạn Hinh đang yêu đương. Có biết anh bạn kia là
ai không?”. Ông Thành tin rằng sau ngần ấy hôm, chắc Chu Mẫn đã biết nhiều thông
tin hơn. “Không biết ạ! Có điều, chiều qua sau khi trở về, thấy bạn Hinh tỏ
ra rất uể oải, buồn bã âu sầu. Chúng em lại đoán là bạn Hinh thất tình!”. Mẫn
cảm thấy câu trả lời của cô đúng là chẳng đâu vào đâu: còn chưa “đoán” được
người yêu của bạn là ai, mà đã đoán rằng “thất tình”! Chi tiết này rõ ràng là vô
giá trị. “Thế thì lạ thật. Công an Nghi Xuân nói rằng còn có một cậu thanh
niên đi cùng Diệp Hinh, cậu ta đang học ở trường này. Chúng tôi sẽ điều tra cho
rõ”. Chu Mẫn rất muốn biết anh chàng kia là ai, cô muốn hỏi nhưng lại nghĩ:
rõ ràng là thầy Thành không có ý định nói cho cô biết, nên cô kìm lại không hỏi
nữa.
Dọc đường trở về trường. Hinh nghĩ đến câu Tốn nói là “gánh nặng
tình cảm”, cô muốn thôi quan hệ với Tốn nên cô chẳng thiết nghĩ đến anh ta nữa,
đồng thời cũng lấy làm may mắn vì mình vẫn chưa “sa đà” vào quá sâu. Nhưng khi
về đến trường, thấy Tốn im lìm chia tay với cô, thì chỉ sau vài tiếng đồng hồ cô
lại thấy nhớ nhung mãnh liệt. Mới có mấy hôm mà mình đã khó tự chủ đến thế
này ư? Thì ra, những tính cách bỗ bã bất kham, gàn dở, cũng như tài hoa của
Tốn đã “đóng cọc” trong trái tim Hinh; nếu không có một cuộc “đại chiến” thì e
rằng chẳng thể xua đuổi được. Mình hãy từ từ mà quên đi vậy, nhưng mỗi khi
lên lớp học chung lại vẫn cứ phải gặp mặt. Khi Chu Mẫn và Trần Hy hỏi Hinh,
ánh mắt của hai cô còn sắc hơn ánh mắt của đội trưởng trinh sát hình sự huyện
Nghi Hưng. Hinh thản nhiên nhìn lại, ngầm tỏ ý bất hợp tác. Thầy Lý chủ nhiệm
lớp cũng hỏi cô vừa qua đi đâu, cô đành nói là nhớ nhà nên về thăm.... Hinh
thầm nhắc nhở mình phải bình tĩnh, khéo lựa mà ứng phó cho qua chuyện, để còn
chuẩn bị cho các hành động tiếp theo. Tức là phải tra cho được bí mật về “hồ
sơ Nguyệt Quang xã”. Nhưng nên điều tra thế nào đây? Lúc ngồi trên tàu hỏa Hinh
đã ngẫm nghĩ, cũng muốn bàn bạc vớii Tạ Tốn. Nhưng lúc đó cô đang bực anh ta,
nên chính cô cũng chưa nghĩ ra, và tất nhiên chưa bàn bạc gì. Tạ Tốn, anh
đang ở đâu? Anh hãy đến giúp tôi với! Nhưng, sang thứ hai tuần sau mới là
buổi học tập trung, thậm chí cho đến nay cô vẫn chưa biết Tốn đang ở khu ký túc
xá nào. Mà dù biết rồi, thì chẳng lẽ mình lại tự đến tìm gặp hay sao? Thì giờ
thì gấp, không cho phép Hinh nghĩ nhiều. Cô bèn đi gặp hội trưởng hội nhiếp ảnh
Du Thư Lượng. Lượng miễn cưỡng đi theo Hinh đến phòng quản lý hồ sơ của nhà
trường, nằm trên tầng ba của khu nhà được quyên tặng mới xây dựng. Một bà tuổi
trung niên là cán bộ ở đây, thấy khách là hai sinh viên, bà ngỡ ngàng, vì bao
năm nay hiếm khi thấy cánh trẻ tự đến để tra hồ sơ. Hồ sơ sinh viên thuờng do
văn phòng của từng phân viện quản lý, phòng này chủ yếu lưu trữ các văn bản có ý
nghĩa lịch sử trong 70 năm kể từ khi thành lập trường. Các học sinh bình thường
không được mượn đọc những hồ sơ này, các sinh viên còn đang học tại trường muốn
đọc, cần xin các cán bộ phụ trách khoa, phòng ban các phân viên xem xét cụ thể
và phê chuẩn. “Hai anh chị muốn tìm hồ sơ gì? Sao phải mang theo máy ảnh
nữa?” Vị nữ cán bộ hỏi có ý dè chừng. “Chúng cháu muốn xem hồ sơ của phòng hồ
sơ này. Nói thế có phần khó hiểu phải không ạ? Chuyện là thế này: trạm phát
thanh chúng cháu muốn thực hiện một chuyên đề về phòng hồ sơ của trường. Các bác
là những cán bộ cần cù thầm lặng làm việc, là những vị anh hùng không công khai
xuất hiện, chúng cháu muốn đông đảo sinh viên có một nhận thức mới đối với công
việc của các bác”. Hinh nói dõng dạc đường hoàng, còn Lượng thì khe khẽ lắc đầu,
anh nghĩ, chỉ qua những câu nói nhăng nhít này, đủ thấy cô bạn đồng hương trông
thanh tú trong sáng của anh có thể dư sức xông pha vào xã hội phức tạp. Quả
nhiên bác ta bớt cảnh giác ngay: “Các cô cậu đã nghĩ về chúng tôi như thế, thực
quả hiếm thấy. Hai cô cậu định phỏng vấn như thế nào?” “Trước tiên phiền bác
giới thiệu cho chúng cháu biết về phòng hồ sơ của trường”. Hinh nói cứ như là
thật. “Để tôi nghĩ xem nên bắt đầu nói từ đâu. Phòng này được thành lập từ
năm 1952, đã có lịch sử lâu đời. Hiện nay các vụ thấy nó chật chội như thế này,
ngay cái cửa sổ cho thoáng khí cũng không có... bởi vì... chắc các vị cũng hiểu:
phòng hồ sơ đâu phải đơn vị quan trọng như các đơn vị giảng dạy, nghiên cứu, các
phòng ban hành chính, cho nên không được coi trọng cho lắm”. Rõ ràng bác ta có
không ít bức xúc nhân dịp này bèn xả ra. “Đúng thế, cháu cũng thấy lạ: một
gian nhà bé thế này thì lưu trữ được mấy năm hồ sơ?” “Tôi biết ngay là cô sẽ
hỏi câu này! Các hồ sơ bình thường, ví dụ hồ sơ về cán bộ giảng viên và sinh
viên đang học, đều do các phân viện và các khoa lưu trữ. Hồ sơ về sinh viên đã
ra trường, cán bộ nghỉ hưu, do phòng quản lý học sinh và phòng tổ chức lưu trữ.
Nếu không, toàn bộ hồ sơ sinh viên giảng viên bao nhiêu năm trời đều dồn về một
nơi thì phải chất cao đến trần nhà!” “Thế thì những tư liệu và hồ sơ thuộc
loại nào do phòng lưu trữ bảo quản ạ?” Bác cán bộ nói có vẻ tự hào: “Nói
chung là tất cả các tư liệu quan trọng! Phòng này lưu trữ những tư liệu có ý
nghĩa lịch sử và có giá trị tham khảo của bảy chục năm qua. Ví dụ, phòng lịch sử
nhà trường, muốn viết bộ sử mới, thì trước hết cần hỏi ai? Rõ ràng là phải đến
phòng chúng tôi trước! Kho tư liệu ở đây chưa dám nói là mênh mông vô tận nhưng
nếu nói là tinh túy hàng đầu thì không ngoa chút nào!” “Nói vậy tức là tư
liệu phòng này lưu trữ rất phong phú, nhưng cháu vẫn không tin rằng căn phòng
này có thể chứa nổi chúng!” Hinh bắt đầu tiến sâu vào vấn đề chính. “Đương
nhiên là không chứa nổi. Nơi này chỉ chứa một số rất ít những tư liệu mà người
ta hay mượn đọc nhất, tuyệt đại đa số hồ sơ hiện nay vẫn chất đống trong tầng
hầm của tòa nhà số 3 khu hành chính cũ, thật là gian khổ. Suốt ngày tối om, nhất
là vào mùa đông - trời chưa sáng tôi đã phải đến làm, tối mịt mới tan tầm, cả
ngày không trông thấy ánh mặt trời”. Bác lại đưa mắt nhìn chiếc máy ảnh mà Du
Thư Lượng đang đeo: “Tôi còn nhớ các chú sinh viên ở hội nhiếp ảnh hồi ấy chưa
tìm được buồng tối, nhà trường bèn bố trí cho họ chen vào chỗ chúng tôi để in
tráng. Tầng hầm vốn đã thiếu không khí, có thêm họ vào, không khí càng nồng nặc
chết khiếp!” Lượng thấy bác ta cau mày, rõ ràng là vì nhớ lại cái cảnh không
mấy tốt đẹp ngày xưa, anh vội nói: “Đó là các đàn anh “khai quốc công thần” của
hội nhiếp ảnh chúng cháu hồi đó đã làm, nay đến lượt bọn cháu đã là chưởng môn
đời thứ chín, chưa từng tham dự lối đánh du kích của họ!” Hinh cười : “Thời
kỳ lịch sử ấy thật là thú vị! Bác có thể dẫn chúng cháu đến tham quan cái tầng
hầm ấy được không ạ? Chắc chắn nó sẽ là trọng điểm trong tiết mục của chúng
cháu!” Bác ta cũng cười : “Được, tôi sẽ làm hướng dẫn viên du lịch cho hai
người!” Khu nhà hành chính cũ nằm sát khu nhà giảng dạy y học cơ sở, đối xứng
với hai tòa nhà giải phẫu và ghép phôi, xây gạch đỏ lốm đốm, là một trong những
kiến trúc kiểu cũ của trường. Từ khi các phòng ban hành chính chuyển về khu nhà
được quyên tặng mới xây, thì nơi này bỗng trở nên vắng tanh. Ngoài một vài đơn
vị hậu cần vẫn còn ở lại chỗ cũ, thì các phòng khách đều tạm đóng cửa bỏ không,
chờ để cho kinh tế ba đến thuê, hoặc là sẽ bị các bộ môn giảng dạy nghiên cứu
của phân viện Y học cơ sở luôn luôn thiếu phòng thí nghiệm đến chiếm chỗ. Nói
chung là khu này đã trở nên tẻ ngắt rất nhiều. Bác cán bộ dẫn hai sinh viên hiếu
kỳ đi qua một quãng hành lang hơi tối, mở một cánh cửa xấu xí, bật đèn rồi bước
xuống từng bậc. Đèn trên đầu hắt xuống còn tối hơn cả đèn hành lang trên kia,
Hinh gần như phải dò dẫm từng bước một mới không bị ngã. Xuống hết cầu thang,
phải đi chừng mươi mét trong bong tối nữa mới lờ mờ nhìn thấy hai cánh cửa lớn
đang đóng im ỉm. Bác cán bộ lần tìm khắp người, rồi lấy ra một chum chìa khóa,
nhìn mãi dưới ánh sang yếu ớt mới nhận ra chiếc chìa khóa đồng khá dài, rồi mở
cửa. Hinh bất giác hỏi: “Tại sao phòng hồ sơ lại đặt ở một nơi âm u thế này
ạ?” Bác ta thoáng nghĩ ngợi rồi đành nói: “Tôi chỉ muốn nói thế này - các cô
cậu đừng nên đưa vào nội dung tiết mục. Tôi cho rằng, nói cho cùng, vẫn là vấn
đề “không coi trọng”! Hiện nay các nơi đều gắng khai thách dịch vụ thu lợi,
phòng hồ sơ chỉ là các đống giấy tờ cũ, không có đất để tổ chức dịch vụ gì. Nhà
trường thì ưu ái kinh tế ba, chúng tôi đương nhiên rất muốn có phòng làm việc
khang trang hơn nhưng kêu trời, trời không thấu, gọi đất, đất không
hay!” Phía trong cửa tối đen như mực, bác cán bộ bật đèn tầng hầm. Bên trong
là hai hàng giá sách, có khoảng hai chục giá sách lớn, tư liệu sách vở chen nhau
san sát, chất cao gần sát trần nhà. Nếu muốn tìm kiếm một thứ gì đó mà không có
người hướng dẫn, thì chẳng khách nào mò kim đáy bể! Hinh than vãn: “Lắm thứ
thế này, muốn tìm cái gì đó thì gay lắm đây” Bác ta nói : “Với người lạ thì
đúng là khó, nhưng chúng tôi đã thuộc làu cách phân loại hồ sơ, thì sẽ tìm rất
dễ, miễn là hồ sơ không xếp nhầm chỗ”. “Các hồ sơ đựơc phân lọai theo trật tự
gì ạ? Theo ABC hay theo số nét chữ Hán ạ?” Hinh đang rất muốn biết về hồ sơ
“Nguyệt Quang xã”. Bác cán bộ nghe viết ngay Hinh là dân “ngoại đạo”, bèn
cười nói: “Việc phân loại và chỉ dẫn các thư mục cần có chuyên môn sâu, chúng
tôi vốn đều học chuyên ngành hồ sơ học. Nói một cách đơn giản là, phòng chúng
tôi áp dụng cách phân loại truyền thống trước kia: dựa vào niên đại và chuyên đề
để phân loại. Ví dụ, trước hết xếp theo năm 91, 90... v.v... sau đó chia nhóm
Đảng - chính quyền, dạy và học, nghiên cứu, đối ngọai, các trường bạn. v.v....
Đồng thời cũng có thể tra cứu theo nhiều cách, ví dụ tra theo thứ tự ABC và số
nét chữ Hán. Chúng tôi đã rất tốn công sức để soạn phần giới thiệu chỉ dẫn, dám
tin chắc là đã toàn diện rồi!”. Bà chỉ vào cuốn sổ dày cộp trên chiếc bàn nhỏ kê
sát cửa: “Đó là phần chỉ dẫn, mỗi năm đều cải tiến một lần”. Du Thư Lượng
nghe có phần ngán ngẩm, anh chợt ngáp dài, Hinh vội lừ mắt ra hiệu anh phải nên
phấn chấn lên. “Nào là phân loại, nào là chỉ dẫn... ngán ơi là ngán! Em định
tra cứu tài liệu gì thì hỏi luôn bà ấy là xong, bà ấy quá mong có người trò
chuyện!” Lượng trách móc. “Anh không thấy bác ấy nói à: muốn xem thứ gì, thì
phải được trường phê duyệt đã! Em đang muốn xem một thứ có màu sắc cá nhân, thì
đời nào nhà trường lại đồng ý!” Hinh nhận thấy mình đã đi vào ngõ cụt. “Định
xem thứ gì? Thôi vậy, đã gọi là cá nhân, thì tôi có hỏi cũng vô ích
thôi!” Hinh thấy Lượng định nói gì đó nhưng lại thôi, cô nảy ra một ý: “Tất
nhiên có thể nói với anh: vẫn là chuyện cũ liên quan đến “vụ mưu sát 405”; chắc
anh cũng đã nghe nói ít nhiều? Em đang ở phòng 405, em không không lo sao được?
Cho nên em muốn xem các tư liệu cũ, ít ra cũng có thể trang bị cho mình một chút
tri thức. Có điều gì thì anh đừng nên giấu em”. Lượng “à” lên một tiếng kinh
ngạc nhìn Hinh một hồi rồi nói: “Tôi nói, mong em đừng giận: gần đây tôi nghe
người ta nhắc đến em, nói rằng em có vẻ bí hiểm, kỳ cục... thì ra là vì chuyện
này. Chuyện về “vụ mưu sát 405” đúng là hơi lạ lùng, nhưng em đừng nên cứ như
người mất hồn vì nó, để rồi lại làm những việc quá trớn! Chưa biết chừng, trong
số người chết đã có người như thế - tức là mắc chứng bệnh bức xúc cực đoan, cứ
quyết dựa theo lịch sử hoặc tự nghĩ ra để thiết kế một kịch bản dẫn mình đến cái
chết. Theo tôi thì Hemingway và tấn bi kịch hồi trước ở thành phố Ketchum đều có
nhân tố đó. Em nên biết con người ta nếu quá đắm đuối theo một cách suy nghĩ thì
hành vi sẽ tiến tới chỗ cực đoan”. Hinh thấy hơi chột dạ, vì Lượng nói rất có
lý. Trong 12 người nhảy lầu, ít nhất có 5 người đã từng đi viện tâm thần, liệu
có phải lịch sử và những lời đồn đại đã gây nên hiệu ứng ám thị đối với những
người chết này không? Cách thôi miên mà các bác sĩ tâm thần vẫn dùng, cũng là
một loại hiệu ứng ám thị đấy thôi! Có phải chính mình đang sa vào chuyện này?
Nhưng cô lại nghĩ, chính mình đã chứng kiến các hiện tượng kỳ dị lúc người cha
qua đời và cái chết bột phát của Thẩm Vệ Thanh, thì mình sao có thể không có cảm
giác về một mối nguy chứ. “Anh nói rất có lý! Có phải gần đây anh đã lên lớp
học môn bệnh học tâm thần không?” Hinh rất cảm kích về sự thẳng thắn và quan
tâm của Lượng. Lượng đã có phần yên tâm, gật đầu nói: “Đúng, cứ cách một tuần
tôi lại đến bệnh viện tâm thần kiến tập một lần, thấy mình được hiểu biết hơn,
nhưng cũng thấy rất đáng buồn. Ta nên biết rằng, với các bệnh thông thường thì
phòng bệnh là chính, chú ý giữ vệ sinh, tập luyện, chế độ dinh dưỡng, không
thuốc lá rượu chè... nhưng đôi khi vẫn không lại được. Còn đối với bệnh tâm thần
thì có khả năng phòng bệnh nhất, nhưng người ta lại dễ lơ là, có lẽ là bởi vì
cần phải lưu tâm. Người bình thường, nhất là những người như tôi, lại rất kém
nhẫn nại lưu tâm”. “Hình như anh bỗng chín chắn lên rất nhiều, có phải anh đã
“kết” một chị nào rồi phải không ạ?” Hinh suy đoán một cách hợp lý. “Làm gì
có chuyện đó.... Em đã nói lạc đề rồi. Vì em là người rất tinh tường, tôi sẽ đưa
em đến phòng nhiếp ảnh của bọn tôi, cho em xem một thứ vô cùng quan
trọng”. Mặc kệ Hinh nài nỉ khai thác, Lượng vẫn không nói trước đó là thứ gì
mà quan trọng đến thế. Về đến phòng làm việc của hội nhiếp ảnh, Lượng chúi đầu
vào tủ sắt đựng tài liệu lục tìm một hồi lâu, rồi kêu lên: “Đây rồi!”. Anh quay
ra tay cầm một chiếc chìa khóa dài ngoẵng bằng đồng: “Trông quen quen, đúng
không?” Hinh reo lên một tiếng. Chiếc chìa khóa này giống hệt chiếc chìa khóa
của bác cán bộ quản lý hồ sơ đã dùng để mở cửa tầng hầm. “Em còn nhớ bác ấy
nói rằng trước kia hội nhiếp ảnh đã từng dung nơi đó làm buồng tối không? Tôi
mới nhớ ra rằng, khi bàn giao công việc, anh hội trưởng tiền nhiệm đã đưa cho
tôi một chùm chìa khóa, trong đó có một chiếc rất cũ kỹ - anh ta cũng không rõ
có thể dùng vào đâu. Khi bác cán bộ kia nhắc lại chuyện cũ thì tôi liên tưởng
ngay đến nó: chắc chắn các vị nguyên lão ấy đã từng có một chiếc chìa khóa để mở
phòng hồ sơ, nhưng về sau đã có căn cứ địa riêng, họ đã quên không trả chìa
khóa, bèn coi như “cổ vật” để làm kỉ niệm”. Khi nói đến chỗ đắc ý nhất, Lượng
vẫn giữ cái dáng vẻ cũ! Hinh thò tay cầm, nhưng Lượng rụt ngay lại khiến Hinh
chưng hửng. “Khoan đã nào! Tôi có thể đưa cho, nhưng em phải hứa với tôi một
điều”. Thấy Hinh tỏ ý hơi bực, Lượng bèn ngừng lời. Anh nhìn chiếc chìa khóa
vàng xỉn, lại nhớ đến lúc nãy mình nhấn mạnh là “phải lưu tâm....” Lượng nghiêm
nét mặt: “Hinh ạ, chúng ta là đồng hương, lâu nay anh vẫn coi Hinh như cô em
gái, cho nên hôm nay anh trịnh trọng nhắc nhở em: nếu tìm ra cái hồ sơ ấy, đọc
xong, em cũng khỏi cần lo lắng gì, và đừng đắm chìm trong cái chuỗi lịch sử kia
nữa. Hãy thoát hẳn ra khỏi nó! Có người nói gian nhà các em đang ở có ma, lẽ nào
Hinh đã nhìn thấy thật ư? Chẳng rõ người khác - kể cả cô Âu Dương Sảnh vẫn được
rao lên là “có duyên với ma quỷ” - có nhìn thấy thật không?. Hinh nhất thiết
không được giả định mình là một “nạn nhân” tương lai, để rồi đi sắm cái vai
ấy!” Câu nói sau cùng của Lượng như một luồng điện cao thế phóng vào Diệp
Hinh lâu nay nhớn nhác chạy quẩn quanh một cách vô định, tinh thần bất ổn. Có lẽ
mình hãy nên lắng xuống, để suy nghĩ ngiêm chỉnh xem, có phải mình đã vô tình
sắp đặt một cái thòng lọng cho mình không? Thấy Hinh ngớ ra như đã tỉnh ngộ,
Lượng thấy nhẹ nhõm: “Có lẽ là tôi nói hơi căng, Hinh thấy không mấy dễ chịu.
Vậy thì, tôi sẽ giữ chìa khóa này, Hinh hãy suy nghĩ cho kỹ, bao giờ cần nó, tôi
sẽ đưa!” “Cứ đưa cho em ngay bây giờ!”. Hinh nói rất rắn rỏi, khiến Lượng
thấy lòng mình nặng trĩu. Đôi mắt Hinh mở to. Thế là đã đợi đến lúc ánh đèn
của chiếc đồng hồ điện tử báo thức chớp chớp ánh sáng xanh, tức là đã 12h đêm.
Hôm nay sau khi ăn xong bữa tối, Hinh cảm thấy Chu Mẫn và Trần Hy luôn có ý tiếp
cận cô, cả hai luôn có mặt ở ký túc xá, ở phòng tự học, kể cả khu vệ sinh...
khiến cô không thể đi đến phòng hồ sơ. Phòng ký túc xá lúc này rất tĩnh mịch, có
thể nghe rõ tiếng thở đều đều của từng cô gái đang say giấc nồng. Hinh mang
theo đèn pin và máy ảnh, nhẹ nhàng xuống giường rồi ra khỏi phòng. Cô đứng trong
bong tối chỗ đầu giường cầu thang một lúc, biết rõ không có ai bám theo, rồi mới
xuống cầu thang. Đến chỗ ngoặt cầu thang giữa tầng một và tầng hai, Hinh bò ra
ngoài cửa sổ. Một mình đi trong sân trường vắng lặng, bóng tối vây quanh,
Hinh không thể nén lòng mình nghĩ đến Tạ Tốn: anh ta thật hẹp hòi, hoặc, anh ta
nghĩ mình là cô gái hẹp hòi. Cứ ngỡ anh chàng rất có nghị lực, thế mà mới chỉ
vấp nhẹ sao đã hạ cờ thu quân? Được thôi, mình sẽ đi đến phòng hồ sơ giữa đêm
khuya, cũng là một dịp để rèn luyện lòng can đảm. Tuy nghĩ thế, nhưng chỉ
riêng lúc đi qua hành lang khá dài của khu nhà hành chính cũ. Hinh đã thấy rờn
rợn. Tuy nó không tối om như khu nhà giải phẫu, còn có lác đác vài vị nghiên cứu
sinh đang miệt mài làm thí nghiệm, nhưng những tiếng động bất chợt phát ra vẫn
khiến Hinh giật thót tim. Lúc bước xuống cầu thang, đèn treo trên đầu dường
như vĩnh viễn lờ mờ. Nhất là khi gió lùa thốc qua hành lang thì cánh cửa nhỏ
phía sau lưng mơ ra hành lang lại cót két khe khẽ khiến Hinh nghĩ rằng chuyến đi
này của mình có lẽ đã quá sai lầm. Nhưng rồi cũng đã đến trước cửa phòng hồ
sơ. Tay cầm chiếc chìa khóa bằng đồng, Hinh nhẩm thề rằng, lỡ mà chìa khóa này
không mở được cửa thì cô sẽ nghe lời Lượng - không hoài công để ý đến “vụ án mưu
sát 405” nữa. Nhưng đến sang sớm 16 tháng 6 thì sao? Hay là sẽ để Tạ Tốn ôm
chặt lấy mình? Hinh cũng không hiểu sao mình lại nảy ra ý nghĩ này. Mặt cô
chợt nóng bừng. Tạ Tốn chết tiệt giờ này đang ở đâu nhỉ? Hinh bình tĩnh
trở lại, tay run run, từ từ tra chiếc chìa khóa dài ngoẵng vào ổ khóa. Rồi xịch
một tiếng, hai cánh cửa phòng hồ sơ mở ra. Tim Hinh bỗng đập nhanh: có lẽ đêm
nay sẽ biết rõ sự thật về “vụ án mưu sát 405”. Dưới ánh đèn pin yếu ớt. Hinh
nhanh tay lật tìm cuốn sổ chỉ dẫn dày cộp. Tra theo ABC và số nét chữ Hán, đều
không thấy từ ngữ nào liên quan đến “405”, hoặc “tự sát”, “nhảy
lầu”... Nguyệt Quang, Nguyệt Quang là gì? Mắt Hinh sáng lên khi nhìn thấy
ba chữ “Nguyệt Quang xã” trong sổ chỉ dẫn. Điều khiến cô ngạc nhiên là từ năm
1956 đến năm 1967 đều có cái từ “Nguyệt Quang xã”; và tất nhiên tất cả đều xếp
vào nhóm “vụ án”. Cô chợt nghĩ: nếu đã xếp như thế này, có lẽ nó liên quan đến
các chuyện quái dị ở phòng 405 cũng nên. Nhưng nghe nói “vụ án mưu sát 405” xảy
ra sớm nhất cũng phải là năm 1977, cách xa ghi chép cuối cùng về “Nguyệt Quang
xã” mười năm! Liệu hai điều này có mối liên hệ gì không? Hinh ghi lại vị trí hồ
sơ “Nguyệt Quang xã” 1956 trên giá sách, rồi lật tìm bắt đầu từ nó. Tìm vã mồ
hôi trong đám hồ sơ “vụ án” năm đó mới thấy một kẹp văn bản có tiêu
đề “Nguyệt Quang xã”, nhưng Hinh lại đờ người ra. Kẹp văn bản ấy còn dày hơn
vài quyển bách khoa toàn thư, rất vất vả cô mới lôi được nó ra khỏi giá sách, cô
soi đèn pin lật giở, thấy toàn là những cuốn sổ công tác, bên trong ghi đặc kín
chứ viết bằng bút máy. Chẳng muốn mất bao lâu nếu muốn đọc hết chúng! Hinh chợt
nảy ra một ý: chi bằng hãy đọc luôn hồ sơ năm 1967, vì nó là những ghi chép cuối
cùng về “vụ án”, chắc chắn phải có phần kết luận hoặc là tổng kết... hiệu quả sẽ
hơn hẳn đọc lần lượt ngần ấy năm ngần ấy tư liệu tạp nham kia. Cô tra lại sổ chỉ
dẫn, tìm vị trí lưu trữ hồ sơ “Nguyệt Quang xã” năm 1967. Nào ngờ tìm đến vị trí
đó trên giá sách thì không thấy kẹp văn bản ấy đâu. Đang cuống lên để tìm, cô
bỗng bị vướng chân - cúi đầu nhìn, thì ra là một cái ghế đẩu dùng để đứng
tìm. Trừ phi đã có người vào đây lục tìm hồ sơ? Hinh tạm biết vậy đã, cô lia
đèn khắp nơi và từ từ di chuyển trong căn phòng. Đi đến chỗ trong cùng, ánh đèn
dừng trên chiếc bàn dài dung cho người đến đọc hồ sơ, trên bàn có một kẹp văn
bản khá dày. Bước đến xem, thấy ngoài bìa viết rành rành “Nguyệt Quang xã”, ghi
rõ năm 1967. Phải chăng gần đây đã có người đọc những văn bản này? Người này có
thể là ai? Tay Hinh cầm đèn pin hơi run run, cô nghĩ ngay đến cái chết của Thẩm
Vệ Thanh. Cảm giác bất ổn ám ảnh cô mấy hôm nay càng thêm nặng nề, hình như có
một bóng đêm luôn bám theo cô, rất quỉ quyệt bí hiểm, hình như nó luôn hành động
trước cô một bước, hoặc là nó đang ngăn cản cô thăm dò... Hay là, bóng đen chính
là cái chết. Ý nghĩ này chợt đến thì Hinh nghe thấy một tiếng động nhẹ, cô sợ
hãi ngoảnh lại, trong bóng tối chỉ thóang thấy một cái bóng lướt trên giá sách.
Hinh run run hỏi : “Ai đấy?” Không có tiếng trả lời. Cô chĩa đèn pin vào các
giá sách phía đó, vẫn chỉ là các giá sách. Như quên hết mọi sợ hãi, cô săm săm
bước đến soi đèn thật kỹ, vẫn không thấy ai. Chắc mình đã thần hồ nát thần tính
đó thôi! Cô lại thở sâu thở đều, xua tan cảm giác sợ hãi ập đến cô như song thủy
triều, quay trở lại bàn chăm chú nhìn tập hồ sơ này. Bên trong tập hồ sơ có
rất nhiều loại văn bản, chắc chắn không thể nào đọc hết trong đêm nay. Hay là ôm
về từ từ đọc vậy? Nhưng lỡ bị lộ thì nhà trường sẽ thi hành kỷ luật nặng. Cô
vội lội máy ảnh ra nhưng nhớ rằng phim chỉ còn chừng hơn hai chục kiểu, và cả
cuốn fim sơ cua thì cũng chỉ được thêm 36 kiểu nữa thôi, mà số văn bản này có
đến vài trăm trang, vậy thì những trang nào mới là quan trọng? Vả lại, chụp ở
nơi này buộc phải dung đến đèn flash, và pin của đèn flash khó mà đủ sức để chụp
cho hết mấy chục bức ảnh! Ta hãy chọn lọc rồi chụp một số trang quan trọng đã,
để đem về nghiên cứu. Nghĩ như vậy nên Hinh cúi xuống nghiên cứu tỉ mỉ các
trang giấy đã mở ra trước mặt,
trên cùng là vài trang viết bằng bút máy trên
giấy viết thư,
mép trên đóng dấu “Hội đồng cách mạng học viện y khoa số 2 Giang
Kinh”;
phía dưới: dòng thứ nhất viết khá ngay ngắn “Báo cáo nội bộ về tình hình
họat động gần đây của Nguyệt Quang xã”;
nhưng phần nội dung chính thì viết theo
thể Hành thư rối rít mù vì cần viết cho nhanh, cực kỳ khó đọc.
Xét cái tiêu đề,
có thể đóan rằng đây là một báo cáo mang tính tổng kết, chắc sẽ hữu ích lắm đây.
Hinh chụp năm trang này để đem về nghiên cứu kỹ. Phần cuối bản thảo có ghi chú
hai chữ “Tinh Hỏa” - chắc là tên người viết báo cáo. Sau mấy trang này, là một
cuốn sổ trong rất chững chạc, xem kỹ, thấy nó là một cuốn nhật ký bìa cứng được
bọc lụa, cầm vào thấy nó rất ưng ý. Hinh mở ra, tim cô như bị chao đi, rồi lại
dâng lên cao. Cô thấy giữa bìa và tờ giấy lót phần ruột có kẹp một mẩu giấy -
chính là mẩu giấy ít hôm trước cô đã ghi số máy điện thọai - nhắn tin và đưa cho
Thẩm Vệ Thanh. Hinh thấy rùng mình và ớn lạnh, lẽ nào hung thủ giết Thẩm Vệ
Thanh - dù nó là người hay ma - đang bám theo mình? Cô khẽ lẩm bẩm: rốt cuộc
ngươi muốn gì? Tại sao ngươi không có gan ló mặt ra? Rồi lại nghĩ: hay đây là
linh hồn của Vệ Thanh - cũng tự đi báo tin như cha cô? Hinh nghĩ càng thấy khả
năng thứ hai là lớn nhất, nhưng, rõ ràng lại là một giả thuyết quá hão huyền!
Nhưng nếu giả thiết ấy là đúng thì cuốn nhật ký này chắc chắn phải chứa đựng
những thông tin quan trọng. Nhưng khi lật vội vài trang, Hinh lại thấy chưng
hửng, nó dày đến trên trăm trang, chữ viết vô cùng bay bướm, nhưng tựa như lối
chữ Thảo tuôn nhanh như nước chảy mây vần, đọc được nó sẽ rất tốn công sức.
Hinh
nghĩ ngợi rồi cô bắt đầu chụp nó từ trang cuối trở lên, dự định đêm nay sẽ đọc
một ít, số còn lại sẽ phóng to rồi đọc sau. Rất nhanh, cô đã chụp hết một cuốn
phim; đang sẵn trong bóng tối, cô lấy phim ra luôn rồi cất vào túi quần bò. Cô
lắp cuộn phim thứ hai, chụp được nửa cuốn thì có tín hiệu báo đèn flash hết
điện. Hinh không chụp nữa, cô giở trang đầu cuốn nhật ký, bắt đầu đọc thật
nhanh. |
Chỉnh sửa bởi dyelvn - 10 Mar 2010 vào lúc 8:43pm
|
|
|
 |
dyelvn
Điều hành
Gia nhập: 19 Dec 2009
Trạng thái: Offline
Bài viết: 695
|
Tùy chọn bài viết
Trích dẫn Trả lời
Đăng: 10 Mar 2010 vào lúc 8:44pm |
Chương 10 Bạn tri âm hiếm có
|
Ngày 23 tháng 1 năm
1967. Trời âm u, tuyết rơi nhẹ
Gần đây tôi bỗng nảy ra ý tưởng viết
nhật ký. Tôi vốn tính rất lười biếng, nếu không quá chán chường chẳng có việc gì
làm thì không đời nào lại cầm bút viết về mình, để rồi sau này đọc lại bỗng dưng
sẽ được dịp chế nhạo mình. Cầm bút, đại khái là để chứng minh rằng tôi đã ngán
ngẩm buồn chán: Y Y đã đi thực tập ở bệnh viện tiền tuyến, hai chúng tôi bị ép
phải tách nhau ra, nàng không dám cưỡng lệnh nên ấm ức, bèn viện cớ xin phép về
quê, đến trước Tết chưa chắc đã trở lại. Nghe nói, trò này là do “Máy Kéo” đã
bày ra để kéo Y Y đến bên cạnh hắn, nhưng quyết định vẫn là do khoa đưa ra, tôi
không có chứng cứ để đấu lý với hắn, muốn đánh nhau với hắn cũng không có cớ gì,
huống chi đám lâu la của hắn lại đông, dù tôi và Kình Tùng cũng xông vào thì
cũng chỉ là “anh dũng hy sinh” mà thôi! Kình Tùng cũng đã xa tôi, nhiệt tình
cách mạng trào dâng, anh ấy đã xuống miền Tây Nam để liên kết hành động, suýt
nữa đã kéo cả tôi đi theo. Vậy là thế giới rộng lớn chỉ còn lại mình tôi.
Người trong bệnh viện rất đông. Gần đây các phe phái Hồng vệ binh ở thành phố
liên tục đọ sức nhau, giở đủ “thập bát binh khí”, lại nghe nói đã có phe phái
dùng đến cả súng trường bán tự động! Thế là các bệnh viện bất đắc dĩ trở thành
“quân y viện”. Có điều, phần lớn các bác sĩ giàu kinh nghiệm của bệnh viện đều
đã bị “đánh đổ” hoặc bị gọi đi xét hỏi, bị đày đi nơi xa, cũng có người chết vì
bị đấu tố cho nên khắp bệnh viện chỉ có các bác sĩ “cách mạng”, nhưng tay nghề
thì tầm tầm làm chủ! Vì thiếu người cho nên các sinh viên thực tập biến thành lũ
kiến thợ, trong tổ sinh viên thực tập chúng tôi, những ai không tham gia tạo
phản đều đã liên tục chạy như chong chóng liền ba hôm, hôm nay rốt cuộc cũng đến
lượt tôi được nghỉ một ngày. Tôi dành cả ngày hôm nay để nhớ về Y Y, rất buồn và
muốn hút thuốc, nhưng vì gần đây đọc thấy một nghiên cứu căn bệnh thịnh hành ở
Anh, nói hút thuốc liên quan trực tiếp đến bệnh ung thư phổi, tôi đã quyết định
bỏ thuốc lá. Để giải buồn tôi mở máy quay đĩa xếp xó đã lâu, mở đĩa nhạc “khúc
song tấu violon cung rê trưởng” của Bach, điệu nhạc vang lên, nỗi cô quạnh và
buồn chán trong tôi dần vơi đi rất nhiều. Nhưng trong ký túc xá đâu phải chỉ có
mình tôi mà còn có hai người tạo phản, cộng với một người nhút nhát hùa theo -
họ không để cho tôi nghe cái thứ âm nhạc của giai cấp tư sản ấy. Sau khi cãi
nhau một chập, tôi nghĩ sẽ rất mạo hiểm nếu mình cứ khăng khăng vào lúc này,
nhưng cũng không muốn khuất phục, từ bỏ thứ âm nhạc mà tôi yêu thích, tôi bàn bê
máy ra chỗ khác để nghe. Đi đâu bây giờ? Có thể đến lớp học, việc dạy và học đã
thất thường khá dài thời gian nhưng vẫn có những người hiếu học, nếu tôi đến đó
mở nhạc, thì khác nào làm cho những mầm mống rường cột tương lai của nước nhà -
một số ít hiếm hoi còn sót lại - sẽ phải buồn phiền? Tôi bỗng nhớ đến một chỗ
rất phù hợp là khu nhà dạy học giải phẫu. Mùa đông thuờng không bố trí giờ
học giải phẫu, nên ở đây thường rất vắng sinh viên. Đã vài lần đi qua khu nhà
ấy, đều thấy bên trong trống vắng lạnh lẽo như lòng tôi lúc này. Tối đến, tôi ôm
chiếc máy hát ra khỏi ký túc xá. Từ xẩm tối những bông tuyết nhỏ đã rơi nhè nhẹ,
đến lúc này khắp đất trời là những vệt trắng như lông thiên nga. Sau tiết đại
hàn, trời lạnh khác thường, một mùa đông như thế này, lẽ ra tôi và Y Y phải kề
sát bên nhau, cùng ngồi trong quán nhỏ ở cổng trường ăn sủi cảo thịt dê nóng hôi
hổi. Thế mà lúc này ánh đèn đường chỉ soi thấy một cái bóng lẻ loi. Cửa khu nhà
giải phẫu tối đen, tôi vấp vào cái bậu cửa cao đến một thước, suýt ngã. Chẳng rõ
ai đã ngớ ngẩn cho xây cái bậu cửa cao thế này trước khu nhà dạy học? Nghe nói
mấy năm trước đã có một bể lớn chứa phọoc môn bị vỡ, phoọc môn tràn ra ngoài nhà
làm ô nhiễm khắp trường, xây bậu cửa này, để phòng các dung dịch lại có thể tràn
ra như vụ việc đó, ai mà biết được có đúng thế không! Lúc mở cửa, tôi thấy hơi
ngài ngại, chắc vẫn là vì từng nghe nói ở đây có ma. Nhưng lại nghĩ việc gì mà
phải sợ đến thế! Tôi đang quá cô đơn, dẫu gặp ma, thì mình sẽ có bạn, vậy thì có
gì là không hay? Ít ra lũ ma ấy vẫn không phải là phái tạo phản, chúng sẽ không
đấu tố các vị giáo sư. Tôi đặt máy hát trong căn phòng nhỏ hướng tây, mở đĩa
“khúc dạo mục ca sau buổi trưa” của Đê-buy-xi. Vì muốn duy trì đựơc tâm trạng,
tôi không bật đèn, ngồi xuống và gác chân lên cái bàn thuờng dùng để đặt tử thi,
tôi nhắm mắt thả hồn vào suối nhạc tuôn chảy. Lúc này tôi thấy rất hài lòng,
người khác đang tạo phản, đang làm cái gọi là đại cách mạng văn hóa, bỗng dưng
phải đổ máu vô ích, còn tôi đang được thư thái nghe nhạc giao hưởng, tôi chẳng
nên ai oán gì nữa. Đương nhiên nếu có Y Y ở bên thì cuộc sống của tôi se ngọt
ngào hơn. Nghĩ đến Y Y, tôi chợt nghe thấy một tiếng thở dài khe khẽ, rất giống
tiếng của nàng. Tôi đứng bật dậy nhìn quanh, tất nhiên chẳng thấy gì ngoài bóng
tối. Có lẽ vì quá khát khao nhớ đến nàng nên tôi đã có cảm giác sai nên không
tiếp tục nghĩ ngợi nữa. Lại ngồi xuống chuyên tâm lắng nghe. Âm nhạc tỏa lan
trong bóng đêm, tôi thật sự cảm thấy khoan khoai dễ chịu, nhưng bỗng có những
tiếng buớc chân vọng đến, rất nhẹ, như sợ khuấy động đến tâm hồn tôi đang du
ngoạn trong đêm, hay là bọn đấu sĩ cách mạng tạo phản? Nếu họ thấy tôi ngồi
đây hưởng thụ sự nhàn nhã kiểu giai cấp tư sản, thì học sẽ cho tôi được thọ giáo
nhiều hơn nữa! Trường này chưa từng “đấu” sinh viên, nhưng nghe nói học viện
công nghệ và học viện kiến trúc đã từng có sinh viên bị “đánh đổ” vì xuất thân
không tốt. Lúc này tôi nên dừng máy hát ngay. Tôi chưa kịp đứng dậy thì máy
hát bỗng dừng lại, tim tôi dường như ngừng đập. “Ai đấy?” Trong bóng tối
tôi không nhìn thấy bóng ai cũng không có ai đáp lời tôi. Nhưng những buớc
chân vừa nãy, thì rõ ràng là không chỉ có một người. Mồ hôi ra ướt đầm lòng
bàn tay tôi, tôi đi lần ra cửa phòng thực nghiệm bật đèn điện lên. Khắp trong
ngoài căn phòng, không một bóng người. Nhưng khi tôi vừa quay người trở lại,
thì máy hát bỗng lại lên tiếng. Nó mở lại từ đầu bản nhạc, hình như có một
bàn tay vô hình, đã nhấc đầu kim máy hát lên rồi lại đặt xuống. Tôi nhìn
chiếc máy hát rất lâu và hít thở thật sâu, có lẽ phải làm thế này thì mới có thể
trấn tĩnh lại một chút. Bỗng tôi lại thấy sau lưng hơi là lạ, bèn quay người
lại, tôi kinh hoàng tiêu tan cả hồn vía. Một đám người đang ngồi kín căn
phòng. Tôi chớp chớp mắt, muốn nhìn rõ xem họ là ai. Nhưng trước mắt vẫn lại
là căn phòng trống không và làn hơi nước mờ trắng từ miệng tôi phả ra do bên
ngoài hơi lạnh. “Ai đã giở trò gì thế này?” Tôi bực tức kêu lên, phải nói là tôi
không thiếu lòng can đảm, nếu không đã chẳng dám một mình ngồi ở phòng thực
nghiệm này trong đêm tối. Nhưng lúc này tôi thấy mình đang bị một nỗi sợ hãi mơ
hồ bao vây. Một tiếng “xịt...” không rõ phát ra từ đâu hình như muốn ra hiệu
cho tôi hãy im lặng. Còn trong óc tôi chỉ có một ý nghĩ “Chạy!” Tôi tiến lại
chỗ máy hát và nhấc cần kim sang một bên, nào ngờ nó như bị chốt chặt tại chỗ,
không sao nhấc lên đựơc. Tôi bèn nhổ dây cắm điện nguồn, tia lửa lóe ra, giắc
cắm rơi xuống đất. Nhưng đĩa hát vẫn đang quay, suối nhạc vẫn tuôn
chảy. Máu trong người tôi như đông lại, nỗi sợ hãi tràn đến dồn dập, tôi
thoáng nghĩ đêm nay mình sẽ mất toi cái máy hát thân yêu. Tôi từ từ đưa tay
ra phía trước, mạnh tay vồ lấy máy hát, chính khoảnh khắc tay vừa đụng vào thì
nó lạnh lùng phóng một luồng điện cực mạnh vào người tôi, khiến tôi bật ngửa
người ngã mạnh xuống đất. Nếu không mặc chiếc áo bông dày, chắc tôi phải bong
gân dập xương vì cú ngã này. Tôi biết mình không lại được với những sức mạnh
siêu nhiên, theo lời dạy của chủ tịch Mao “Địch tiến thì ta lui”, tôi chạy như
bay ra khỏi khu nhà giải phẫu. Rốt cuộc ai đã bỡn cợt tôi như thế, tôi dám khẳng
định họ chẳng phải người thường! Thế thì các chuyện kháo nhau là có mà, đều là
thật hay sao? Tôi nghĩ nhức óc, lúc này đã quá khuya nên cũng có phần rối trí,
tôi đành ghi lại những điều mắt thấy tai nghe, để sau này thư thả sẽ nghiên cứu
kỹ hơn.
Ngày 24/01/1967 Tuyết rơi vừa phải
Sáng sớm đã phải
đến nhà giải phẫu, căn phòng thực nghiệm phía Tây trống trơn, thế thì chiếc máy
hát của tôi đã biến vào cõi hư vô. Cả ngày đi hỗ trợ phòng cấp cứu, hễ thoáng
ngơi tay là tôi lại thẫn thờ nhớ đến cái máy hát, tôi lại hỏi mình: Đây có phải
một mảng đời mà ta buộc phải trải qua? Hoặc đây là một giai đoạn bị giam hãm,
đêm đêm phải khắc khoải nhớ nhung người yêu mà không thể gặp, nhớ bạn mà cánh én
không thể đưa tin, thậm chí ngay một thứ đồ dùng để tạo niềm vui cũng không thể
giữ nổi. Tôi không thể nuốt hận, không muốn cúi đầu trước số phận, đêm khuya
tôi lại đến khu nhà giải phẫu với một tia hi vọng, biết đâu sẽ xảy ra chuyện kỳ
lạ để có thể nhặt lại hoặc là đoạt lại chiếc máy hát của tôi về. Tôi không hề
tin có thần thánh ma quỉ, điều này khỏi phải bàn, nhưng dù có ma thật thì tôi
cũng phải đọ với nó một phen, quyết làm cho ra nhẽ! Bước qua bậu cửa cao, rồi
buớc lên thềm, tôi bỗng đứng sững lại. Phía sau cánh cửa khép kín, tiếng nhạc
văng vẳng đưa ra - chính là khúc dạo đầu bản nhạc “mục ca sau buổi trưa” - mà
tối qua tôi đã mở máy hát để nghe. Tôi điên tiết đẩy cửa xông thẳng vào gian
phòng thực nghiệm ở phía Tây định lớn tiếng chất vấn, nhưng lại mím môi... Vì
thấy trong đó có hai ông già mà tôi đều biết họ. Một vị là Lưu Tồn Chức giáo sư
hàng đầu môn dược lý học của trường, vị kia là Giang Mật cựu chủ nhiệm khoa
phóng xạ của phân viện 1. Giáo sư Chức tuổi ngoài 60, nghe nói hồi trẻ từng sang
Mỹ du học, sau năm 1949 trở về phục vụ Tổ quốc, hình như mình ông đã vực cả khoa
Dược vươn lên. Giáo sư Mật có vị trí cao trong hàng ngũ học thuật phản động, lẽ
ra cũng là đối tượng bị chuyên chính đấu tố, nhưng vì hai vị trung niên kia ở
khoa phóng xạ đã lên làm cán sự trường, lớp trẻ còn lại thì chưa đủ học vấn, vẫn
cần một sư phụ ở lại cầm chịch cho nên ông Mật mới được yên thân, sáng nay tôi
vừa cùng ông đọc fim X-quang của một bệnh nhân gãy xương vì “đấu võ” khi đấu tố.
Tôi còn nhớ cách đây không lâu đã có lần ngẫu nhiên ngồi cùng ông bình luận về
âm nhạc cổ điển... Ông Mật nhận ra tôi, hình như không hề ngạc nhiên vì tôi
đến đây, ông cười nói: “Cậu Tiêu ạ, chiếc máy hát có dán chữ Tiêu ở bên cạnh, là
của cậu à? Chúng tôi đang có một cuộc gặp mặt nho nhỏ ở đây, máy hát và toàn bộ
đĩa hát của tôi thì đã bị họ khám nhà tịch thu mất rồi, tôi đang buồn vì không
có nhạc để nghe. Tại sao máy hát của cậu lại ở đây?” Tôi hậm hực: “Đêm qua em
đến đây nghe nhạc, thế rồi cái máy hát bị người ta ai mà biết được, có lẽ, ma đã
cướp đi! May sao chúng lại đem trả lại!” Ông Chức và ông Mật ngớ ra, đưa mắt
nhìn nhau, rõ ràng cả hai ông đều cho rằng nói có ma lấy đi là chuyện hão huyền,
và đang nghĩ xem tôi có bị tâm thần hay không? Nhưng dù sao hai ông đến gặp nhau
tại phòng thực nghiệm này cũng vẫn là đáng quí, và có lẽ, cũng như tôi, họ chẳng
có chỗ nào tốt hơn để đến. Vào thời buổi rối ren này, đâu có thể dễ dàng tìm
được một chốn sạch sẽ! Có nhiều tiếng lao xao ở ngoài hành lang, một người nói
giọng rất vang: “Chúng ta đã nghe bản “Mục ca sau buổi trưa” này không biết bao
nhiêu lần, nhưng vẫn cảm thấy người thời trước nói “Đê-buy-xi cấu tứ theo trường
phái ấn tượng”, là rất võ đoán. Tôi vẫn cảm nhận rằng về sắp xếp ý tưởng, tác
giả vẫn giữ nguyên chuẩn mực và nghiêm cẩn của trường phái cổ điển hoặc trường
phái lãng mạn”. Một giọng nữ cười nhạt: “Tôi thấy anh rất sính phát ngôn kỳ cục
khác đời thì có! Khúc nhạc này rành rành là “phá vỡ truyền thống”! Tôi tạm nêu
vài ví dụ: về khúc thức, Đê-buy-xi đã gỡ bỏ các công thức thông thường, không
cho lặp lại cả đoạn và không tái hiện nét chủ đề; về tổ hợp câu, cũng không phân
đoạn chính đoạn phụ, vận dụng rất nhiều chuỗi giai điệu, những điều này hoàn
toàn xa lạ với trường phái cổ điển”. Giọng rất vang kia lập tức chặn luôn:
“Đó là về hình thức! Vẫn là bình mới rượu cũ! Không thể phủ nhận rằng khi đó
Đê-buy-xi định bước ra khỏi trường phái cổ điển, nhưng nhiều nhất chỉ có thể nói
bản nhạc này là bước quá độ tiên tiếng đến trường phái ấn tượng! Xét từ góc độ
thẩm định, thì hoàn toàn có thể vận dụng trình tự thưởng thức nhạc giao hưởng để
nghe bản nhạc này!”. Người phụ nữ vẫn cười nhạt: “Anh đúng là phái cổ điển! Nghe
nhạc mà cũng dùng trình tự! Anh có biết Mô-ra-mê là ai không?” “Thi sĩ trường
phái ấn tượng rất nổi tiếng, tác giả trường ca “Mục đồng sau buổi trưa”, đã được
phổ nhạc bằng khúc nhạc này!” “Anh đã công nhận Mô-ra-mê là nhà thơ lừng danh
thuộc trường phái ấn tượng, thơ trường phái ấn tượng đã được phổ nhạc. Chính
Mô-ra-mê nghe trình diễn xong, ông nói tác phẩm này quá tuyệt vời, còn hay hơn
cả nguyên tác thơ! Vậy nó chẳng phải trường phái ấn tượng là gì?” Giọng nam vang
dội bỗng cười sằng sặc: “Phải đấy! Bám sát từng câu để mà phổ nhạc, và có thể
phản ánh chính xác từng ý thơ nguyên tác-thì đâu phải là trường phái ấn tượng
hay tượng trưng gì nữa? Nó sẽ là có sao nói vậy, nó là cách soạn nhạc của trường
phái cổ điển rất chuẩn mực”. Tôi ngây người nghe, thấy cả hai nói đều không
phải là không có lý. Giáo sư Chức và giáo sư Mật thì lại cười tủm tỉm lắn đầu.
Một nam và một nữ bước vào phòng. Người đàn ông tầm vóc cao lớn, trạc 45 tuổi,
có bộ râu quai nón được tỉa xén rất chau chuốt. Người phụ nữ trạc khoảng ngoài
30 tuổi có mái tóc dài được uốn rất khéo, trông thật trang nhã. Ông Chức nói:
“Hai vị hễ gặp nhau là đôi co thế ư? Nghe nhạc cổ điển, điều đáng lưu tâm là cảm
nhận chứ không phải là vận dụng trí não, nếu nghĩ ngợi nhiều quá thì lại là trói
buộc trí tưởng tượng và sự cảm thụ của mình!”. Hai người dường như đồng thanh
trả lời có phần áy náy : “Bác Chức nói có lý, chúng tôi có cái tật xấu là chẳng
ai chịu phục ai”. Ông Mật cũng cười: “Nếu hai vị không có tật hay đôi co thì
chắc đã về ở với nhau từ lâu rồi!” khiến đôi nam nữ kia càng ngượng ngịu đỏ chín
cả mặt. Tôi chưa gặp hai vị này ở trường bao giờ, nên hơi tò mò quan sát. Người
phụ nữ có khuôn mặt khá đẹp, rõ ràng đã được giữ gìn chăm sóc kỹ lưỡng, nhất là
mái tóc dài khiến tôi phải ngạc nhiên: vì gần đây, dù ở trường hay các hang cùng
ngõ hẻm bên ngoài, bất kỳ lúc nào cũng có thể thấy các hồng vệ binh hoặc bọn ác
ôn cầm kéo để cắt các bộ tóc dài và quần áo theo mốt. Sao chị ta lại may mắn
thoát được? Và có lẽ ban đêm đến nhà giải phẫu cũng là một tuyệt chiêu! Ông
Mật chỉ vào tôi và nói: “Giới thiệu với hai vị, đây là cậu Tiêu - một sinh viên
giỏi, hiện đang thực tập ở bệnh viện trực thuộc số 1, cũng là một người hâm mộ
nhạc cổ điển”. Ông lại chỉ hai vị vừa đến, nói tiếp: “Đây là tiến sĩ Lăng Hoành
Tố, nhân vật hàng đầu của bộ môn chăm sóc y tế bà mẹ và trẻ em của khoa chăm sóc
y tế trường ta, đây là cô Lạc Vĩnh Phong - bác sĩ mổ hạng nhất của khoa ngoại
bệnh viện trực thuộc số 2”. Cả hai thân thiện gật đầu nhìn tôi, ông Tố hơi ngập
ngừng, rồi hỏi: “Có phải hai bác định...”, ông ta lại nhìn tôi, không nói tiếp
nữa. Ông Chức hiểu ý, bèn nói: “Sự việc rất hệ trọng, e rằng hai chúng tôi
không giải quyết nổi, chúng ta cùng nên bàn xem sao”. Tôi rất muốn nán lại để
cùng tìm hiểu về cách đánh giá nhạc cổ điển, nhưng nhìn họ đều có vẻ dè dặt kín
đáo như thế, tôi thấy mất hứng bèn nói: “Cũng hơi muộn rồi, các vị lại có hẹn
với nhau, tôi xin cáo lui. Về chiếc máy hát, nếu cần thì các vị cứ dùng đi, mai
tôi sẽ đến chỗ thầy Mật cầm nó về. Chỉ hiềm... khu nhà này có phần kỳ dị... tạm
coi như là ma - có thể sẽ cướp máy hát. Nhưng các vị đông người thì chắc sẽ ổn
thôi!”. Ông Mật nói: “Cậu Tiêu đừng vội đi, tôi có tiếng là dân học thuật
phản động, hiện đang bị chụp mũ đeo biển để cải tạo tại chỗ, len lét như rắn
mồng năm... đâu dám bê cái máy hát về khoa phóng xạ của tôi? Chúng tôi gọi nhau
đến đây chỉ để cùng nghe nhạc cổ điển, nếu cậu cũng có hứng thì mời cậu ở lại
cho vui. Nói đúng ra là, không thể thiếu cậu. Vì máy đĩa hát của chúng tôi
đều đã bị tịch thu, may mà họ chưa càn quét đến sinh viên các cậu nên có lẽ
chúng tôi còn phải tiếp tục nhờ cậu cung cấp món ăn tinh thần cho!”. Tôi đã hiểu
hơn: “Tức là các thầy thường gặp gỡ định kỳ phải không ạ?”. Ông Mật gật đầu:
“Chuyện nói cho kỹ, e rằng dài dòng. Chúng tôi đã từng ấn định ngày gặp mặt
nhưng mấy năm nay thế sự xoay vần quá dữ dội, nên không thể còn qui luật gì
nữa!” Tôi định hỏi thêm nhiều nữa, ví dụ có phải các vị thường gặp gỡ ở đây,
và cũng từng gặp sự việc như tôi gặp đêm qua nhưng lại thấy tiếng bước chân, rồi
có hai ba chục người nói cười lục tục tiến vào. Trông họ đều có dáng trí thức,
tuổi từ ngoài 30 cho đến 60-70 tuổi, cả nam lẫn nữ, dường như họ đều dường như
rất thân quen. Hình như ở trường tôi từng nhìn thấy vài người trong số họ... Ông
Chức bỗng e hèm, rồi nói to: “Có lẽ mọi người đều đã tề tựu, ta bắt đầu nào! Dễ
thường... đến hai tháng nay chúng ta không gặp nhau, trong khoảng thời gian này,
bên ngoài... khắp trong ngoài trường, tình hình ngày càng tệ hại. Nói đúng ra
là, đôi lúc tôi thấy chẳng còn bụng dạ nào mà nghe nhạc hoặc giải trí nữa! Nhưng
rồi lại nghĩ, càng gặp thời buổi gian nan thì ta càng nên tìm cách để giải
thoát. Âm nhạc có thể giúp ta xa lánh mọi ưu phiền, rất hữu ích cho cả thể xác
lẫn tâm hồn!” Mọi người đều gật đầu tán thưởng. Ông Mật nói tiếp: “Ngẫu
nhiên hôm nay được biết anh Tiêu - tuổi còn trẻ nhưng cũng là một người hâm mộ
và hiểu biết khá sâu về âm nhạc cổ điển. Gần đây chúng ta đều đã bị mất hầu hết
đĩa hát, anh Tiêu thì lại có đĩa hát. Cùng có chung sở thích cả, cho nên chúng
tôi nghĩ, rất hoan nghênh anh Tiêu sẽ tham gia vào hội này. Các vị nghĩ sao
ạ?” Nhận thấy đám đông đều có vẻ do dự, tiến sĩ Tố nói: “Lại là một sinh viên
à? Mấy tháng trước tiếp nhận một sinh viên vào hội, rốt cuộc ra sao, lẽ nào hai
vị đã chóng quên thế?” Không buồn để ý họ có chấp nhận tôi hay không, tôi
thản nhiên nói: “Tôi thực sự không hiểu các vị đang nói là nhập hội gì gì thế?
Tôi rất không thích mọi ràng buộc, tốt nhất không có tổ chức nào cả, sẽ tự do
thoải mái hơn!” Ông Mật vội nói : “Cậu Tiêu bỏ quá cho, tôi chưa giải thích
rõ với cậu. Những điều tôi nói sau đây, mong cậu đừng nói với ai khác: chúng tôi
tập hợp với nhau lập nên một nhóm nhỏ gọi là “Nguyệt Quang xã”. Gốc gác của cái
tên gọi này là, hồi đầu mới thành lập, mấy vị nguyên lão đang cùng ngồi thưởng
thức bản sô-nát Ánh Trăng của Bethoven do các dàn nhạc khác nhau diễn tấu dàn
nhạc Snây-ben, Béc-hao-xơ, Hu-lao-den-đơ rồi chúng tôi lại so sánh Ánh trăng của
Bethoven với các bản cùng tên của Đê-buy-xi và Phô-rê, rốt cuộc lấy “Ánh trăng”
đặt tên cho hội của chúng tôi. Đó là chuyện xưa cũ... Từ năm 1952”. “Nguyệt
Quang xã” vốn là một đoàn thể hoạt động văn nghệ công khai, nào ngờ năm 1957 có
phong trào chống hữu khuynh, nhiều thành viên của hội vì mang đậm cảm quan kiểu
giai cấp tư sản cho nên “nghiễm nhiên” bị coi là phái hữu, hội của chúng tôi
cũng bị coi là một “tổ chức phái hữu”, rồi bị cấm hoạt động. Nhưng đám chúng tôi
lại không nghĩ thế: ngồi với nhau để nghe nhạc, mà là phái hữu ư? Chúng tôi
bèn lui vào “hoạt động bí mật”. Thế rồi bị người ta biết, nhà trường bèn để mắt
đến, rồi lập hồ sơ về chúng tôi, rồi nghi ngờ rằng đây là một tổ chức phản cách
mạng hoặc đặc vụ gì đó. Chúng tôi càng chú ý phải giữ bí mật hơn, gắng không kết
nạp thêm thành viên mới, ai cũng phải tuyệt đối giữ kín việc mình là thành viên
của “Nguyệt Quang xã”, số lần gặp gỡ cũng giảm thiểu, phải kén chọn kỹ địa điểm
kín đáo, mỗi lần gặp nhau chỉ hạn chế 1/3 số hội viên để đề phòng nếu bị “càn
quét” thì sẽ mất sạch quân số! Và nhà trường dần cạn hẳn thông tin về hội này,
không biết gì nữa. Kể từ năm ngoái nổ ra đại cách mạng văn hóa. “Nguyệt Quang
xã” lại trở thành đối tượng vô căn cứ “rất cứng đầu” mà ủy ban cách mạng nhằm
vào - vì “Nguyệt Quang xã” chỉ còn cái tên suông, chẳng ai biết những người nào
là thành viên, không hề có dấu vết tụ tập hoạt động gì cả. Tháng 9 năm ngoái,
chúng tôi đang tập hơn ở đây thì có một thanh niên trông sáng sủa, tay bưng một
chồng đĩa hát, xồng xộc tiến vào. Anh ta nói lời xin lỗi rồi tự giới thiệu tên
là Liễu Tinh, rất mê nhạc cổ điển nhưng vì nhà nghèo - tuy có thể mua được một
số đĩa hát cũ nhưng không sao mua nổi chiếc máy hát. Vào một buổi tối đi qua khu
nhà giải phẫu nghe thấy văng vẳng tiếng nhạc, anh ta bèn lén bước vào thấy một
đám người đang ngồi nghe nhạc cho nên mới hứng chí bê các đĩa hát đến, nào ngờ
khi tiến vào thì ở đây không thấy một bóng người. Suốt một thời gian sau đó anh
ta vẫn không nguôi, ngày nào cũng đến đây chờ và tối hôm đó đã gặp chúng tôi,
anh ta nài nỉ xin nhập hội. Thấy anh ta rất chân thành, chúng tôi bèn đồng ý
và nhấn mạnh với anh ta tính chất “hoạt động bí mật” của hội, anh ta thề sẽ giữ
bí mật. Trải qua vài lần tập hợp, anh ta đã quen hầu hết các thành viên của
hội. Vào hạ tuần tháng 11, đại đa số các hội viên đều bị thẩm vấn riêng rẽ,
họ tra hỏi về vấn đề “Nguyệt Quang xã”. Tất nhiên chúng tôi phủ nhận, nhưng tổ
điều tra đã có chuẩn bị sẵn sàng, nên họ miêu tả rõ tình hình tụ tập trong hai
tháng trước, ép chúng tôi chứng minh rằng mình “có bằng chứng ngoại phạm”- đúng
là làm khó cho chúng tôi. Trong quá trình xét hỏi, tổ điều tra đưa ra nhân chứng
quan trọng để đối chất, chắc anh đã đoán ra: chính là Liễu Tinh! Tôi nói cầm
chừng: “Nếu đã có chuyện cũ đáng sợ như thế, có lẽ các vị đừng nên kết nạp tôi
thì hơn, để tránh lại bị hãm hại” Ông Chức nói: “Trừ phi anh không mấy hứng
thú thì thôi, chứ chúng tôi không hề nghi ngại gì anh! Thực ra thì Liễu Tinh còn
trẻ thật nhưng anh ta rất am hiểu nhạc cổ điển. Tôi không hiểu nổi cùng là dân
mê nhạc với nhau sao nỡ nồi da nấu thịt như thế? Có lẽ tối mắt vì lợi chăng.
Nhưng tố ra đám ‘đồ cổ’ như chúng tôi, thì được lợi lộc gì? Có lẽ đó là ‘biểu
hiện tinh thần cách mạng!’.” Chưa đợi tôi tỏ thái độ của mình, ông Chức đã phát
biểu ngay cảm nhận của mình. Đủ thấy Liễu Tinh là một vố đau đối với họ. Nữ
bác sĩ Lạc Vĩnh Phong nói: “Lẽ nào bác không biết, thằng nhãi ấy chưa chắc đã
hiểu rằng mình đã làm một chuyện vô lương tâm! Hắn tưởng như mình hoạt động bí
mật, tiến sâu vào vùng địch, nắm được thóp của một tổ chức đặc vụ rồi giăng lứoi
vét sạch-thế là rất vẻ vang!” Ông Chức nói: “Lâu nay tôi rất muốn chạm trán
anh ta trong trường để hỏi mấy câu, nhưng hình như anh ta đã biến mất tăm tôi
đến khoa Y học dò hỏi, thì hầu như không ai nghe nói rằng đã từng có anh
ta” Tôi nói: “Có lẽ tôi cũng chưa từng nghe ở khoa nói về một anh chàng như
thế. Có lẽ anh ta là một kẻ giả danh sinh viên cũng nên. Hoặc, thực ra là một
công an!” “Thế thì việc tham gia hội” ông Mật nhìn tôi, ánh mắt có ý động
viên và mong mỏi. Đương nhiên tôi rất mong được kết giao với các vị bề trên
có chung sở thích thưởng thức âm nhạc, nên tôi vui vẻ nhận lời ngay. Tiến sĩ
Lăng Hoành Tố dặn dò: “Về chuyện này, anh tuyệt đối không nên nói với bất cứ ai,
kể cả bạn chí thân, thậm chí kể cả người yêu và người nhà, vì chuyện này liên
qua đến sự an toàn và tiền đồ của anh, chớ có coi thường!”. Cuốn nhật ký cất
giấu ở chỗ nào, chỉ mình tôi biết. Dù tôi có viết vài đây thì cũng không ai biết
đấy là đâu.
8/2/1967 Trời nhiều mây
Gần đây tâm trạng tôi
chơi vơi chẳng thiết viết nhật ký nữa. Mấy ngày qua không thấy bóng ông Giang
Mật ở bệnh viện, đêm đêm tôi vẫn đến nhà giải phẫu xem sao, nhưng cũng chẳng
thấy bóng ai. Nhưng có lẽ do hào hứng vì đêm nay là đêm 30 tết, nên tôi lại
đến chỗ cũ để tìm ông Giang Mật và ông Lưu Tồn Chức. Trong hai ông rất ũ rũ, mặt
ông Mật còn hằn rõ dấu vết bị đánh đập, ông Chức thì đi tập tễnh, rõ ràng là bị
hành hạ không ít. Tôi buồn rầu hỏi: “Thì ra thầy Chức cũng bị bắt ư?” Ông
Chức mỉm cười: “Chỉ sây sát nhẹ thôi, có gì đâu mà!”. Đang nói chuyện thì thấy
Lăng Hoành Tố, Lạc Vĩnh Phong và mấy vị bước vào. Tôi thấy xúc động, họ cũng như
tôi - “không gia đình”, đêm 30 vẫn phải lang thang như những cô hồn. Tôi chuẩn
bị mở máy hát thì ông Mật giơ tay ngăn lại: “Hôm nay đừng mở cậu Tiêu ạ! Gần đây
tình hình căng lắm, nên cẩn thận thì hơn. Hiện giờ chỉ còn mình cậu là người an
toàn nhất, cậu phải giữ mình ở lại. Hai chúng tôi chỉ đến gặp để mọi người biết
rằng chúng tôi vẫn yên ổn!”. Nét mặt ông Tố và mọi người đều buồn bã, tôi không
hiểu tại sao bèn hỏi: “Có phải từ nay thầy Chức thầy Mật sẽ khỏi bị phiền hà nữa
không? Họ đã buông tha rồi chứ?” Ông Mật cười có phần cay đắng: “Phải! Sẽ
không bao giờ bị phiền hà gì nữa!” Ngừng một lát ánh mắt ông nhìn tôi rất
hiền từ: “Từ nay cậu Tiêu gắng đừng đến khoa phóng xạ tìm tôi nữa, dù có đến mà
không gặp tôi thì cũng đừng hỏi thăm làm gì kẻo cậu sẽ bị rắc rối!” Tôi gật
đầu vâng lời Điều lạ lùng là, hai ông trở lại, lẽ ra tôi phải thấy yên tâm
mới phải. Nhưng tôi nằm xuống giường cứ trằn trọc mãi không sao ngủ được, đành
ngồi dậy viết nhật ký vậy.
15/02/1967 Trời nắng
Vì tôi chẳng có
nhà mà về, nên mấy ngày Tết tôi gần như chỉ quẩn quanh ở bệnh viện. Tối tối,
tôi vẫn đến nhà giải phẫu mong có thể gặp lại những con người thân thiết của
“Nguyệt Quang xã”. Nhưng đều vô ích. Thì ra dù sao họ cũng vẫn hạnh phúc hơn
tôi, ít ra họ vẫn được hưởng sự ấm cúng của gia đình. Vì thế tôi nhớ Y Y vô cùng
da diết, và cả người bạn thân Kình Tùng nữa, cậu đang ở đâu? Đêm nay giá lạnh
khác thường. Đến quá nửa đêm tôi vẫn không ngủ được, bèn xuống gác ra khỏi ký
túc xá, đến nhà giải phẫu với một tâm lý cầu may. Nhưng tôi phải trợn mắt vì
kinh ngạc trước cảnh tượng trước mặt: hầu hết các thành viên của “Nguyệt Quang
xã” đều có mặt, tuy vì thiếu tôi nên không có tiếng âm nhạc bay lượn, nhưng ai
đấy đều tỏ ra rất vui mừng và tươi cười. Phải chăng dù trong những tháng năm
gian khó, mùa xuân đến vẫn cứ đem lại niềm vui cho con người? Tôi cực kỳ ngạc
nhiên hỏi vị giảng viên khoa Hóa đứng bên xem là đã xảy ra chuyện gì. Ông ta chỉ
tay về phía trước: “Cứ nhìn hai vị ấy thì biết!”. Ngay phía trước mặt, một đám
đông đang vây quanh Lăng Hoành Tố và Lạc Vĩnh Phong. Hoành Tố mặc bộ complê màu
xanh sẫm đen, đứng ngay ngắn, trong rất có tư thế hiên ngang với bộ râu quai nón
được chăm sóc công phu. Vĩnh Phong mặc bộ áo dài len màu huyết dụ, trang điểm
phấn son, vẫn mái tóc dài buông như trước. Nét mặt cả hai rạng rỡ tràn trề hạnh
phúc sướng vui, khiến tôi thầm tấm tắc: họ tuy đều đã đứng tuổi nhưng vẫn trong
sáng như một cặp giai nhân ngọc ngà tuyệt mỹ. Thì ra là tối nay họ cưới
nhau. Tôi tuy chỉ mới quen biết họ, nhưng trước đây cũng từng nghe nói họ
thầm yêu nhau đã lâu, nhưng cả hai đều cao ngạo, chẳng ai muốn thổ lộ trước với
đối phương, cả hai lại cùng ham cầu tiến vươn xa trên con đường sự nghiệp, nên
bao năm qua vẫn chưa kết bạn trăm năm. Hôm nay họ mới đến với nhau, trái ngọt
tình yêu phải chín, không thể nào khác. Tôi thực lòng thấy rất mừng cho
họ. Tôi chạnh lòng nhớ đến Y Y. Tôi phải làm gì để nàng thóat ra khỏi sự đeo
bám của “Máy Kéo”? Tôi nói lời chúc mừng đôi lứa, rất hưng phấn, tôi quay về
ký túc xá lấy ra vài đĩa nhạc valse của Giô-han Strao xơ. Một đêm đáng vui như
thế này rất cần đến âm nhạc náo nhiệt tươi vui và lãng mạn. Khi quay trở lại
khu nhà giải phẫu, là lúc mọi người đang tặng quà mừng cô dâu chú rể. Phần lớn
quà mừng đều chỉ gọi là “thể hiện tấm lòng”, chủ yếu là sách, tranh ảnh, phù
điêu gì đó. Bỗng nhiên đám đông ồ lên ngạc nhiên vì nghe thấy tiếng bánh xe lọc
cọc, một ông lão đã quá tuổi cổ lai hy đang đẩy chiếc xe ba bánh chở một tủ kính
kiểu “bao diêm” cỡ lớn. Mọi người tránh ra nhường lối, ai cũng nhìn rõ chiếc tủ
kính đang bày trước mặt. có thể nói tôi khá “biết người biết của”, nhìn kỹ, tôi
nhận ra nó đâu phải là tủ kính mà là chiếc tủ pha lê. Điều khiến mọi người trầm
trồ là trong tủ lại có một tiêu bản cơ thể người gần như hoàn mỹ! Dường như
dung toàn bộ các bộ phận cơ thể người thật để ghép nên tiêu bản này, hệ cơ, bộ
xương, dây thần kinh, mạch máu đều được sắp xếp có lớp lang, tạo nên một chỉnh
thể gắn bó hữu cơ. Khéo léo tuyệt vời hơn cả tạo hóa! Nhưng nếu nói nó là một
thi thể thì cũng không quá đáng, chiếc tủ cũng rất giống chiếc quan tài pha lê.
Ai đã đưa tặng món quà cưới rất không vui này nhỉ? Người đẩy xe đến, là giáo
sư Liêu Dự Xương ở phòng giảng dạy nghiên cứu giải phẫu học, trước đây ông đã
từng là giảng viên chính dạy chúng tôi môn này. Giọng ông rất vang: “Đa số các
bạn đồng nghiệp ở đây đều biết, tôi đã bỏ ra 15 năm tâm huyết để làm ra tiêu bản
này, “Gươm báu phải tặng dũng sĩ”, bác sĩ Phong đã từng giúp tôi thẩm định giáo
trình giải phẫu học do Bộ tổ chức biên soạn năm 56, học vấn về giải phẫu học đã
lên đến đỉnh cao, nếu không, tuổi còn trẻ thế này, đâu có thể trở thành cao thủ
tầm cỡ nhất nhì của thành phố ta. Tiêu bản này vẫn cần được hoàn thiện hơn nữa,
tuy nhiên tôi chẳng nghĩ ra có dịp nào khác để tặng hai vị”. Ông Phong vô
cùng cảm động nói luôn: “Nhận món quà quí giá nhường này, tôi thực ngại quá!”,
ông sờ tay vào tủ pha lê nhìn một hồi lâu, rồi lại nhìn khắp mọi người. Hai hàng
lệ tuôn trào, ông nói nghẹn ngào: “Tôi tính khí vốn rất kiêu căng ương ngạnh, tự
cho mình là rất tài ba, xử thế thường hay vấp váp, nếm phải không ít đắng cay
nhất là trong mấy năm qua, chỉ có “Nguyệt Quang xã” mới cho tôi cảm nhận được sự
đầm ấm như trong một gia đình. Hôm nay được sánh đôi cùng Hoành Tố, cũng là nhờ
các vị đã tác thành cho, ấy là phúc cho tôi vậy!” Hoành Tố cầm mùi xoa lau
nước mắt, nhưng chị cũng không quên “chỉnh” chú rể một câu: “Hôm nay là ngày đại
hỷ, mà anh lại cúi đầu khóc sướt mướt thì còn ra sao nữa?” Tôi xem chừng đã
đến lúc rồi đây, bèn lặng lẽ bật máy hát. Điệu valse mùa xuân vang lên, mọi
người đều yêu cầu cô dâu chú rể khiêu vũ. Hai người lau nước mắt, mỉm cười, vui
vẻ nhận lời. Họ uyển chuyển xoay tròn lướt trong tiếng nhạc. Tôi không hề có
hứng thú với khiêu vũ, nhưng ít ra cũng tàm tạm biết xem. Hai người nhảy, khiến
tôi được mở rộng tầm mắt. Họ thực sự là một đôi bạn nhảy quốc tế vũ rất tuyệt,
bước chân của Vĩnh Phong linh hoạt như thiên nga giỡn sóng, lướt nhanh khiến
người ta nhìn hoa cả mắt. Chiếc áo dài của Hoành Tố vốn không phải là lựa chọn
thích hợp nhất cho khiêu vũ, nhưng vì bước nhảy của Vĩnh Phong rất tài tình nên
Hoàng Tố như đang uốn lượn trong không gian, tấm thân mềm mại uyển chuyển như
Hằng Nga đang bay lên cõi tiên, huyền diệu vô cùng! Không khí tràn ngập vui
tươi thấm đẫm hồn tôi, tôi quên hết mọi nỗi ưu phiền vẩn vơ, tôi không ngớt vỗ
tay tán thưởng, hò reo ca ngợi! Nhưng cũng đúng lúc này tôi bỗng cảm thấy có
điều gì đó thật lạ lùng... Vì trong nhà giải phẫu rất lạnh, khi tôi lớn tiếng
hò reo, miệng tôi phả ra từng làn “khói trắng”. Nhưng tôi nhìn mọi người xung
quanh thì không thấy ai phả ra khói trắng như thế như thế cả. Một nỗi kinh
hãi bỗng từ đáy lòng tôi dâng lên, hoàn toàn lạc lõng với nét nhạc điệu nhảy
đang rộn ràng ở nơi này. Trong mấy hôm nay, lần đầu tiên tôi trăn trở điều
này “Nguyệt Quang xã” gồm những ai? Nó có liên quan đến việc tôi bị bỡn cợt hôm
nọ không. Tôi lại quan sát các thành viên vây quanh, họ cũng chẳng khác gì
những người bình thường. Giáo sư Tiêu Trí Dung ở phòng giảng dạy nghiên cứu sinh
lý học đang đứng phía trước cách tôi vài thuớc, tôi thử đưa tay ra vỗ vai ông
một hai ba cái mỗi lần vỗ một mạnh hơn, nhưng ông vẫn không nhận ra và không
quay đầu lại. Tim tôi đập cực nhanh, hơi thở như muốn tắc nghẽn, có lẽ đây là
lần đầu tiên tôi thấy thực sự khiếp hãi. Nhưng tôi cố gắng nén nỗi sợ hãi bắt
đầu ập đến này, dù các nhân vật đứng quanh tôi là người hay ma thì không khí hân
hoan này vẫn là có thật. Cũng là lần đầu tiên trong bao ngày nay, tôi mong niềm
hân hoan này sẽ kéo dài mãi mãi chứ đừng đứt đoạn. Tôi bèn lặng lẽ rời khu nhà
giải phẫu. Khép cửa lại rồi, tôi vẫn thấy văng vẳng tiếng nhạc, âm nhạc vẫn là
có thật. |
|
|
|
 |
dyelvn
Điều hành
Gia nhập: 19 Dec 2009
Trạng thái: Offline
Bài viết: 695
|
Tùy chọn bài viết
Trích dẫn Trả lời
Đăng: 10 Mar 2010 vào lúc 11:11pm |
Chương 11 Ngọc nát và ngói lành
|
16/2/1967 Trời nhiều
mây
Sáng nay đang ở buồng bệnh nhân khoa nội, nhân lúc đi lấy phim X
quang, tôi rẽ vào khoa phóng xạ. Ông Mật từng nhiều lần chắc tôi không được hỏi
han về ông, nhưng tôi vẫn kiếm cớ để hỏi: “Đã đọc xong film của bệnh nhân nằm
giường 54 buồng 3 khoa Nội chưa? Bác sỹ Lý nói là muốn ông Giang Mật đọc
giúp”. Một bác sĩ trẻ của khoa phóng xạ cười nhạt: “Bác sĩ Lý của các anh
đang khám chữa bệnh ở bệnh viện nào vậy? Cứ như là mới từ Liên Xô về! Ông Mật đã
bị bắt mấy hôm nay. Mấy hôm trước nghe nói ở toà án ông ấy bỗng phát điên, rồi
nhảy lầu khi tay vẫn đang bị còng. Có lẽ lúc này xác ông ấy đang ở phòng thực
nghiệm giải phẫu của trường các vị. Ông ấy đã viết sẵn di chúc: xin hiến xác cho
nhà trường để dùng trong giảng dạy”. Tuy tôi đã có linh cảm chẳng lành nhưng
khi nghe tin này tôi vẫn thấy hoang mang rất lâu. Đến trưa tôi lại tạt sang
khu văn phòng khoa Dược, hỏi thăm vài câu là biết ngay: mấy hôm trước ông Lưu
Tồn Chức đã nhảy lầu tự tử. Tan tầm trở về ký túc xá, tôi nằm vật ngay ra
giường, mắt ngây nhìn trần nhà ố vàng, nằm bất động chẳng biết bao nhiêu lâu,
tôi bỏ cả bữa tối. Tôi nghĩ về những chuyện xảy ra bấy lâu, những tưởng mình đã
tìm được mảnh đất thần tiên nho nhỏ, nào ngờ những người đồng hành lại chẳng
giống như ta! Thế giới quan của tôi cũng bị lung lay: chẳng lẽ trên đời này
có ma quỷ thật hay sao? Thế rồi, sau lúc nửa đêm tôi lại đến khu nhà giải
phẫu. Đẩy cửa ra, một vùng tối và lạnh rợi thẳm sâu vô tận. Không ai có thể
tin nổi mới chỉ đêm trước nơi đây từng đầy ắp những tiếng nói cười vui vẻ, ca vũ
tưng bừng cho đến sáng. Tôi đã cuồng nhiệt vui chơi với một bày ma quỷ. Nghĩ đến
đây, tôi chợt sởn tóc gáy! “Đã biết rõ tất cả rồi, tại sao anh lại còn đến
đây?” Một giọng nói vang lên, hình như phát ra từ một nơi rất xa, nhưng lại như
nói ngay bên tai tôi. Tôi lại phát hoảng, nhưng không thể nói được một lời.
Đèn hành lang bỗng sáng lên, nhưng chỉ lờ mờ, hai bóng người xuất hiện, hình như
vừa từ dưới đất “nổi” lên, tập tễnh chầm chậm tiến lại phía tôi, tôi dần nhìn rõ
hơn: đó là Giang Mật và Lưu Tồn Chức. “Khi lần đầu giới thiệu với tôi ở
“Nguyệt Quang xã”, hai vị còn ở cõi nhân gian, tại sao lại” “Đúng thế, lúc đó
chúng tôi vẫn còn sống - tuy sống chẳng thú vị gì, nhưng vẫn là đang sống. Lúc
đó nhìn thấy cậu, thực ra là chúng tôi nhìn thấy tia hy vọng. Nhưng rồi bị bắt,
bị thẩm vấn mấy lần, nhất là sau khi bị thành phố xử công khai, thì tia hy vọng
ấy dần tắt ngấm”. Ông Chức buồn rầu nói. Tôi tưởng tượng thấy cảnh xét xử,
hai ông bị hành hạ bị làm nhục, tôi trào nước mắt: “Nhưng, tự sát thì chẳng phải
là hành động của kẻ hèn nhát hay sao? Gắng chịu đựng để sống, vẫn cứ là khúc dạo
đầu để chờ ngày ta lại đứng lên kia mà!” “Chúng tôi đều là những người rất
giàu lòng tự trọng, coi danh dự cao hơn cả tính mạng, muốn để cho nhạc cổ điển
củng cố khí tiết cao cả, cũng tức là để cho chất lãng mạn của nghệ thuật dệt nên
những mộng ước hoàn mỹ. Nhưng rồi kết quả lại chỉ là sự yếu mềm không thể cứu
vãn được! Hiện thực không chấp nhận thì chúng tôi từ giã hiện thực vậy! Mong anh
sẽ nhận lấy bài học từ chúng tôi, không làm những điều dại dột ấy
nữa!” “Đương nhiên tôi sẽ không làm theo các vị, tôi còn phải sống, tôi còn
có người yêu, các bạn thân, còn có những người ở “Nguyệt Quang xã” - cùng chí
hướng nhưng không đi vào ngõ cụt, còn có hôn nhân và gia đình vui vẻ hạnh phúc”.
Tôi thấy giọng mình hơi lạc đi, chẳng rõ vì thấp thỏm hay vì sợ hãi. Một
giọng cười nhạt từ phía sau tôi vọng đến. Tôi thót tim, ngoảnh lại rồi kêu
lên một tiếng: một đôi nam nữ cao lớn đang sánh vai đứng đó, người đàn ông mặc
bộ com-lê màu xanh xẫm đen, người phụ nữ mặc bộ áo dài nhung, nhìn trang phục
thì biết ngay là Lăng Hoành Tố và Lạc Vĩnh Phong mới cưới nhau tối qua, nhưng
khuôn mặt của họ, trời ơi, khuôn mặt của họ đều dập nát hoàn toàn không thể nhận
ra! Những vết nứt đan xen không theo một quy tắc nào, đầm đìa những vệt máu xẫm
đen, và còn nhìn thấy lờ mờ xương trắng phía dưới. “Thì ra các vị
đã...” Ông Mật thở dài: “Cậu Tiêu ạ, lúc giới thiệu cậu tham gia “Nguyệt
Quang xã”, thì ông Chức và tôi vẫn là người đang sống. Tiến sĩ Tố và bác sĩ
Phong bị tên Liễu Tinh chỉ điểm đầu tiên, bị hành hạ đủ bề nhưng vẫn nghiến răng
không khai ra hai chúng tôi. Vẫn lại là tên Liễu Tinh ấy nằm vùng ở “Nguyệt
Quang xã” đã chỉ điểm khui ra hai chúng tôi. Mấy hôm trước chúng tôi du ngoạn
đến đây để kết giao với cậu, đó là khoảng thời gian giữa khi bị thẩm tra và bị
bắt. Cậu bị cướp máy hát đêm hôm ấy, cũng là do các bạn hội viên làm! Vì căm
giận tên Liễu Tinh, chúng tôi ngỡ cậu là đồng bọn với hắn nên chúng tôi mới đùa
bỡn cậu. Ngờ đâu cậu lại trở thành hội viên duy nhất vẫn còn sống đến hôm
nay!” Tôi nhìn ông Mật, rồi lại nhìn vợ chồng Tố và Phong: “Nhưng, tối qua
hai anh chị đã kết duyên...” Hai vợ chồng nhìn nhau không nói gì. Ông Chức
thở dài: “Họ đều tham gia hội từ nhiều năm qua, tâm đầu ý hợp đã lâu, năm ngoái
họ đính hôn và dự định tổ chức hôn lễ vào mùa xuân năm nay. Nào ngờ tai bay vạ
gió ập đến, cả hai bị quy chụp là đặc vụ - chẳng bị xử tử thì cũng bị kết án
chung thân - không thể về sống với nhau. Cả hai đều rất thanh cao giàu lòng tự
trọng, cùng nặng lòng với nhau, và chẳng muốn phải chịu đựng cảnh chia ly tan
nát. Nếu không thể làm đôi chim chắp cánh bay trên trời thì làm cây liền cành
dưới đất vậy! Cho nên họ đã lựa chọn... Khi còn sống chúng tôi đều nêu với nhà
trường ý nguyện hiến xác cho phòng thực nghiệm giải phẫu. Cũng chính vì thế mà
phần lớn các hội viên đều có thể tái ngộ nơi đây. Với hai vị này, “người hữu
tình đã nên duyên chồng vợ”, âu cũng là niềm hạnh phúc có được từ trong muôn nỗi
bất hạnh vậy!” Cuộc trò chuyện kỳ lạ khiến tôi vô cùng cảm động, lệ rơi lã
chã. Ông Mật nói tiếp: “Cậu Tiêu ạ, tôi nhận ra rằng trong tính cách của cậu
cũng có nhiều chỗ yếu mềm. Cậu phải nhớ kỹ: tuyệt đối đừng đi theo lối cũ của
chúng tôi. Gian khó chỉ là tạm thời, ánh sáng sẽ là vĩnh viễn! Phải mãi mãi giữ
được ánh sáng ấy, mới có đủ can đảm để chiến thắng những cảnh ngộ éo le”. Tôi
gật đầu. Đương nhiên tôi sẽ không rẻ rúng cuộc đời, dù chỉ là vì Y Y, vì Kình
Tùng thì tôi cũng sẽ vững vàng để tiếp tục sống. Tôi bỗng nhận thấy mình bơ
vơ không nơi nương tựa, vốn nghĩ “Nguyệt Quang xã” là ân huệ của thượng đế ban
cho, là chốn yên tĩnh để linh hồn tôi đến nương náu, còn gì sung sướng hơn được
ở gần các vị bề trên đằm thắm tình người và cao nhã? Nhưng giò đây tôi đã biết
sự thật, chẳng lẽ từ nay tôi sẽ gắn bó với một đám hồn
ma?
8/3/1967 Trời nắng
Hôm nay là một ngày vui. Ngày Quốc tế
Phụ nữ 8/3, Y Y được nghỉ nửa ngày, nàng mất hai giờ đồng hồ ngồi tàu hỏa để đến
với tôi. Thời gian vừa qua tôi đã hai lần đến bệnh viện tiền tuyến thăm nàng.
Đúng thế: nàng đã bị “Máy Kéo” bố trí làm cùng một tổ thực tập. Để xua tan sự
ghen tuông của tôi, nàng nói nàng luôn giắt bên người một cái kéo, sẵn sàng liều
đối phó với hành vi quá trớn của Máy Kéo. Tuy nhiên, đến nay Máy Kéo vẫn chưa
dám một lần mời nàng ăn cơm, vẫn ở giai đoạn quan sát “từ xa”. Hai chúng tôi
tâm sự suốt một buổi chiều, âu yếm gắn bó, bịn rịn không nỡ rời nhau. Vừa ăn cơm
tối bước ra cửa nhà ăn, đã trông thấy Máy Kéo cùng bọn lâu la thuộc phái “tạo
phản”. Nhìn thấy cảnh thân mật giữa tôi và Y Y, Máy Kéo mặt sa sầm, hắn hằn học
nói: “Hai người còn có vẻ gì là Hồng vệ binh nữa hay không hả? Yếu đuối uỷ mị
thì có làm nổi đại cách mạng văn hóa không?” Tôi lẩm bẩm: “Chỉ thạo cái lối
cáo mượn oai hùm!” Máy Kéo chỉ chờ có dịp, hắn bèn gào lên: “Có ý kiến gì với
các đồng chí cách mạng, thì có thể đàng hoàng nói to lên, khỏi cần lí nhí ấp úng
thế!” Y Y cũng bực mình, nhưng nàng không muốn chúng tôi phải cãi nhau, bèn
nói: “Đồng chí Máy Kéo, sao các anh cũng về trường thế? Đã nói là nữ sinh tổ
thực tập được phép nghỉ, nam giới các anh làm thay kia mà?” Đôi mắt lòng
trắng át cả lòng đen của Máy Kéo điên đảo liên hồi, hắn ôn tồn nói: “Chuyện là
thế này Y Y ạ: tôi đến đón bạn về. Đúng là nữ sinh được nghỉ nửa ngày, và nên
hiểu chính xác rằng cho đến nửa đêm là hết nửa ngày phép. Nhưng 0 giờ ngày mai
bạn đã phải thực tập cấp cứu, đêm hôm khuya khoắt, đường xá xa xôi, thì tôi yên
tâm sao được?” Y Y kinh ngạc trước sự vô liêm sỉ của Máy Kéo: “Nhưng các anh
đã nói rằng sẽ làm thay phần việc của chúng tôi...” Máy Kéo cười khẩy: “Tôi
nói vẫn còn chưa rõ ràng hay sao: làm thay, tức là làm thay phần việc hôm nay,
việc ngày mai, các bạn vẫn phải làm. Bạn Y Y hãy theo tôi về đi!” Tôi không
thể nhịn được nữa: “Này Máy Kéo, Y Y là cái tên để cho cậu gọi hay sao? Cậu có ý
đồ gì, thì ai cũng biết cả rồi, tôi xin cậu thôi đi cho. Cái trò vờ vịt của cậu
bốc mùi khiếp lắm, sắp làm cho người đi đuờng chết ngất đến nơi!” Mấy tháng
qua, Máy Kéo đã dần dần trở thành một trong những thủ lãnh của phái “tạo phản”
trong trường, nói chung chẳng ai khiêu khích hắn làm gì. Lúc này hắn tái mặt,
xấn đến thụi vào ngực tôi. Tôi đã lường hắn xấu hổ quá đâm khùng, nên tôi né
người, hắn chỉ “đấm không khí”, nhưng lưng tôi bỗng bị đấm thật mạnh, đau thấu
tim thấu phổi, biết ngay là đồ đệ của Máy Kéo đã đánh trộm. Y Y kêu lên một
tiếng lo sợ cho tôi. Tôi quay lại, thấy hai tên thuộc hạ của Máy Kéo đứng hai
bên tả hữu, tôi xông đến tấn công rất mau lẹ. Tôi cũng thấy Máy Kéo ở phía sau
cũng không chịu đứng yên, hắn nện tôi rất ác. Tôi nghĩ “phen này mình bị hố to
rồi đây”. Bỗng nghe hai tiếng chửi “mẹ kiếp”, thì ra hai tên lâu la đã ngã
lăn quay, thuận đà này tôi nhún thấp mình, Máy Kéo tiếp tục xuất chưởng đều
không trúng. Tôi đá quét ngang, hắn ngã sấp mặt luôn! Thì ra đã có người kịp
thời cứu viện, tôi nhìn lên: chính là Kình Tùng! Từ bé, Kình Tùng đã chuyên
đánh nhau với cả đám đối thủ sống trong khu trường, lẽo đẽo bám theo một thày
giáo ở trường thể dục thể thao để luyện quyền cước. Sau khi “đắc thế”, Máy Kéo
rất muốn lôi kéo Kình Tùng nhưng Tùng vẫn chỉ ậm ừ cho qua chuyện, chủ yếu là vì
chơi thân với tôi. Hôm nay Tùng ra tay cũng tức là từ nay anh trở thành cái gai
trong mắt Máy Kéo. Mấy tên lâu la của Máy Kéo hè nhau xông vào tôi, Kình Tùng
ngăn tôi lại: “Tránh voi chẳng xấu mặt nào! Bọn mình rút thôi!”. Tôi hiểu Tùng
nói có lý, bèn kéo Y Y đi, ba chúng tôi vụt chạy biến luôn. Y Y không thể
chạy nhanh, bọn người kia có thể đuổi đến nơi. Tôi nhanh trí chỉ ngay vào ngôi
nhà nhỏ: “Bọn mình nấp vào ngôi nhà kia đi!”. Đó chính là nhà giải phẫu. Kình
Tùng thoáng do dự, nhưng rồi cũng ừ. Ba chúng tôi chạy vào khóa cửa lại, rồi đẩy
chiếc bàn sắt vẫn dùng để đặt tiêu bản ra chèn cửa. Tôi hỏi Tùng tại sao anh
lại đến đúng lúc như vậy, anh đã đi liên hệ ở miền Tây Nam kia mà? Tùng nói:
“Mình đã đi đến nhiều nơi, đã gieo không ít hạt giống cách mạng, nay đã đến lúc
phải trở về căn cứ địa”. Trở về trường, anh đã tìm tôi mãi. Nghe nói tôi và Y Y
đang gặp nhau, anh bèn tìm đến nhà ăn. Y Y bỗng cười nhạt: “Có phải anh đang
theo dõi bọn em không đấy?” Tùng cũng cười nhạt: “Anh không chấp bọn con gái
các em đâu! Em hỏi cũng bằng thừa!” Tôi biết quan hệ giữa Y Y và Tùng vẫn
thường căng thẳng chẳng đâu vào đâu, đang định nói mấy câu dàn hoà thì bỗng nghe
“xình xình xình...” bọn Máy Kéo rất hung hăng, chỉ vài cú tấn công, đã xô hỏng
cửa, cái bàn sắt cũng bị đẩy lui vào. Tùng và tôi ra sức chèn cái bàn sắt,
không cho bọn chúng vào cửa. Nhưng chúng đông quân, nên chúng tôi không lại
được. Cuối cùng, chiếc bàn sắt bị dạt sang một bên, Tùng và tôi ngã sõng soài,
trợn mắt nhìn cánh cửa đã bị mở toang. Máy Kéo đắc chí cười độc ác, ngông
nghênh bước vào. Chúng tôi nhổm dậy vụt chạy đến tận cùng hành lang. Một tên lâu
la ở phía sau hô lên: “Cả ba đứa đều là đầu đất hay sao, chỉ biết lủi vào trong
thì chạy đâu cho thoát?” Một tên khác nói gọn lỏn: “Đại soái Máy Kéo ạ, ở đây
không có ai khác, lại rất yên tĩnh, cứ coi hai thằng nhóc kia là phản cách mạng,
ta trấn áp luôn cũng không ai biết đấy là đâu! Mau ra tay làm cho gọn đi! Em
nghe nói bên đại học Công nghiệp và đại học Cơ điện đều làm thế, đã tiêu diệt
được khá nhiều tên phản cách mạng!” Tôi thấy kinh hãi, Tùng cũng dừng chân,
cả hai chúng tôi đồng thanh: “Chúng mày dám?” Máy Kéo ngẫm nghĩ, rồi nhìn Y Y
nói: “Không cần thiết phải quyết liệt đến thế, hôm nay vốn chỉ muốn đón Y Y về
đi làm, nếu Y Y chịu theo chúng tôi về, thì chỉ cần dạy cho hai tên này bài học
để ghi nhớ là được!” Bọn thuộc hạ của Máy Kéo hưởng ứng ngay, sáu tên từ từ
áp đến, ba chúng tôi đành từ từ lùi lại. Tôi có phần tuyệt vọng. Bỗng Máy Kéo
thét lên một tiếng. Sau tên tuy đang bước lên, nhưng lại giống như đang đi xuống
cầu thang, cũng như lại đang bước vào một đầm lầy - đầm lầy đang nuốt chửng tất
cả. Càng bước càng đi xuống - rất nhanh, đầu gối đã bị chôn xuống đất, nền hành
lang phẳng phiu hình như biến thành bùn lầy lồi lõm vô hình. Mặt bọn chúng đầy
vẻ kinh hoàng, chúng kêu gào chửi bới bằng đủ thứ ngôn ngữ tục tĩu bẩn thỉu,
khiến Y Y phải đưa tay bịt chặt tai. Chúng tôi cũng vô cùng kinh ngạc, nhưng
nhìn xuống dưới chân, vẫn là nền xi-măng trơ cứng. Tôi thoáng nghĩ, chắc là các
hội viên “Nguyệt Quang xã” đang giúp tôi. Lúc này tôi thấy có phần áy náy: từ
sau khi biết rõ sự thật về họ, tôi bàng hoàng ngơ ngác, cũng chưa đến lại nơi
này và luôn có ý nghĩ sẽ tuyệt giao với “Nguyệt Quang xã”. Chỉ phút chốc bọn
Máy Kéo đã bị chôn đến nửa người, chúng ra sức bấu vào mặt đất bên cạnh, nhưng
quanh người chúng cũng nhão nhoẹt vô hình, càng vùng vẫy lại càng lún sâu hơn.
Cuối cùng, Máy Kéo tuyệt vọng giơ tay cầu cứu chúng tôi. Tôi và Kình Tùng
nhìn nhau, mấy tên này tuy là những kẻ có ý nghĩ tàn độc thật sự nhưng chúng
cũng là bạn học cùng khoa, chỉ vì theo đám ăn tàn nên đã lầm đường lạc lối đó
thôi, tội không đến mức phải chết. Nhưng liệu chúng có thế như chó sói đớp lại
ta không? Thấy mặt đất đã nuốt đến ngực chúng, tôi bèn tiến lại chìa tay cho
Máy Kéo. Trong chớp mắt, tất cả trở lại bình thưòng, đầm lầy đã biến mất, Máy
Kéo và các “chiến hữu” nằm sõng soài trên mặt nền - có vẻ như chưa thể bò dậy
được. Chúng nhìn ánh mắt chúng tôi - đang hàm chứa nghi hoặc, sợ hãi, phẫn nộ có
đủ cả. Tôi cúi xuống nói với hắn: “Nếu tôi không muốn cứu, thì cậu sẽ tiếp
tục chìm. Cho nên tôi yêu cầu cậu hãy biết điều và nhận lời: đừng nuôi tham vọng
đối với Y Y nữa, yêu cầu này không có gì quá đáng chứ?” Hình như Máy Kéo vẫn
chưa thoát khỏi sự kinh hoàng vừa rồi, hồi lâu không nói được. Mãi đến khi ba
chúng tôi bước qua bậu cửa cao của nhà giải phẫu mới nghe hắn kêu lên: “Mày giở
trò mà quỷ! Ông đây làm cách mạng, ông không sợ trò ma quỷ của mày đâu!” Sau
đấy Kình Tùng và Y Y đều nài nỉ hỏi tại sao tôi lại được sự trợ giúp kỳ quái thế
ở nhà giải phẫu, tôi vẫn cố nén không nói gì hết, mặc dù tôi luôn rất tin tưởng
ở cả hai người.
3/4/1967 Trời âm u, mưa nhỏ.
Trong tháng hai,
nhiều vị nguyên lão khai quốc đã chất vấn “đại cách mạng văn hóa”, mong sẽ xoay
chuyển càn khôn, nhưng họ đã thất bại, rồi bị gọi là “Dòng nước ngược tháng
Hai”. Thế là khắp trong trường, ngoài trường rộ lên phong trào phê phán “Dòng
nước ngược tháng Hai”, sự tàn khốc tanh tưởi lại càng dữ dằn thêm. Nhiều giáo sư
và sinh viên trong trường đã bị “đánh đổ”, phái “tạo phản” bèn chính thức chĩa
mũi nhọn vào những sinh viên “có vấn đề xuất thân”. Tôi là một trong số
đó. Họ bắt tôi trình bày “vấn đề xuất thân” của mình, tôi chỉ có thể nói tôi
bị đẻ ra, nên không tự quyết định được “vấn đề xuất thân”. Chẳng hiểu sao họ tra
ra được bố mẹ tôi đang ở nước ngoài, bèn hỏi tình hình của họ hiện nay, và tại
sao chỉ mình tôi ở lại. Xu hướng truy hỏi của họ khá rõ ràng, chỉ chưa gọi thẳng
tôi là đặc vụ mà thôi! Về mọi chuyện của cha mẹ tôi, bác tôi rất ít nhắc đến với
tôi. Tôi giận cha mẹ đã bỏ rơi tôi từ nhỏ nên cũng chẳng thiết hỏi nữa. Bác gái
tôi ốm rồi mất, bác trai của tôi từng làm việc cho chính phủ Quốc dân đảng trong
một thời gian ngắn, sau đó lại làm đại diện thương mại cho một công ty nước
ngoài, cho nên bác bị bắt đi tù. Thế là tôi càng không thể hỏi ai về mọi nguồn
gốc của mình. Những đối tượng đã lọt vào tầm ngắm của uỷ ban cách mạng, thì
chắc chắn sẽ bị “đánh đổ”; tôi cũng biết chắc mình sẽ bị phê đấu nên cũng không
thiết dài dòng với họ. Tôi nghĩ, tôi cứ một mực khẳng định sự trong sáng của
mình thì cùng lắm là bị họ lôi ra trước đám đông “đánh đổ” vài lần. Mọi người
thấy tôi chỉ là anh thư sinh yếu ớt chắc sẽ có chút thông cảm. Trừ phi họ có
bằng chứng gì đó chứng minh tôi là đặc vụ, thì hậu quả sẽ thật tệ hại. Chứng
minh như thế nào? Đã từng tham gia “Nguyệt Quang xã” - là đủ để đẩy tôi vào thế
đối lập với nhân dân ngay lập tức!
17/5/1967. Trời râm
Hôm nay
Y Y đến thăm tôi. Lâu nay, ngày nào tôi cũng bị tổ điều tra o ép, bắt tôi
phải nói về tội trạng “đặc vụ”. Mỗi ngày ít nhất tôi bị dồn ép sáu tiếng liền,
tôi không thể làm việc ở bệnh viện như mọi ngày, và càng không thể chăm chú đọc
sách, thần kinh căng như hễ đụng vào là đứt tùng, người tôi như có thể nổ tan
bất cứ lúc nào. Y Y xuất hiện lúc này, tôi như đang trong đêm khuya tối đen
chợt nhìn thấy ngọn đèn bừng sáng. Khuôn mặt nàng hơi gầy đi, đôi mắt đượm vẻ
u buồn, đủ thấy rằng, là bạn gái của tôi, nàng cũng bị tổ điều tra căn vặn không
ít. Tôi thấy hổ thẹn áy náy, sau một hồi mới nói được mấy chữ: “Em gầy đi
nhiều!”. Nhưng nàng lại sờ vào má tôi và nói: “Anh gầy đi còn khiếp hơn!”. Nàng
trào nước mắt, trái tim tôi se lại. Y Y chân thực, Y Y thánh thiện và dịu
dàng, vì tôi nàng đã phải chịu oan ức. Bao nỗi đau khổ tôi phải chịu đựng bấy
lâu chợt biến mất như làn sương mỏng tan nhanh sau khi ánh dương lên. Nhưng nhìn
hai hàng lệ của nàng vẫn không ngừng tuôn chảy, sự phẫn nộ trong tôi lại dâng
lên rất lâu không sao lắng xuống được. “Anh xin lỗi em, anh đã làm em bị liên
lụy”. Tôi biết câu nói này thật nhạt nhoà bất lực, nhưng nó vẫn là tiếng của
lòng tôi. Y Y dịu dàng nói: “Sao cứ phải tách bạch “giữa anh và em” như thế?
Anh từng nói Em là của Anh, Anh là của Em, anh đã quên rồi ư? Tổ điều tra, thật
sự đáng ghét, nhưng bọn họ có thể làm gì nổi em? Huống chi, em không hề biết bất
cứ chuyện gì về anh! Bọn họ doạ em rằng, em xuất thân cũng không tốt, chỉ còn
cách hợp tác với họ thì mới có thể giảm nhẹ nghi ngờ của tổ chức đối với em. Em
thừa hiểu là chỉ hù doạ nhau, em cũng không bận tâm”. “Em nói thế này, lòng
anh đã nhẹ nhõm hơn nhiều. Bọn họ cũng hết cách đối với anh, nên bắt đầu giở
ngón hành hạ thần kinh”. Y Y nói: “Đúng thế! Mỗi khi nghĩ đến anh suốt ngày
bị họ căn vặn, lòng em như bị kim đâm dao cắt. Em còn nghe nói tuần sau họ sẽ
đưa anh ra xét xử công khai, một lần chưa được thì sẽ làm lần hai lần ba, có
thật thế không?” Tôi gật đầu: “Đúng là bọn họ đã doạ anh như thế, nếu anh
không chịu chủ động nói ra thì “hội phê đấu” sẽ chờ anh”. Y Y gật đầu, hình
như định nói gì nhưng lại thôi. Tôi im lặng chờ đợi, rồi Y Y mới chịu nói: “Anh
có định chủ động nói trước không?” Câu nói này như tiếng sét đánh khiến tôi
kinh hoàng hồi lâu: “Gì thế? Em nói là anh thật sự có vấn đề cần nói ra ư?” Nàng
là người mà tôi tin cậy nhất mà cũng... Y Y nói: “Anh nói vớ vẩn gì vậy? Anh
thật ngốc! Trên cõi đời này em sẽ là người cuối cùng nghi ngờ anh! Dù anh tính
cả anh Trịnh Kình Tùng!” Tôi nhận ra câu nói của Y Y dùng theo mẫu câu kiểu
tiếng Anh, bèn cố ý trêu chọc: “Gần đây em lén nghe đài địch phải không? Tiếng
Anh của em ngày càng khá lên, có lẽ sẽ quên tiếng Trung Quốc mất thôi”. Y Y
cười: “Anh hẹp hòi thật, lại trả đũa người ta rồi! Em nói thật nhé: tổ điều tra
đã hỏi đi hỏi lại em: anh có liên hệ gì với tổ chức phản cách mạng “Nguyệt Quang
xã” gì gì đó không? Em trả lời: Tôi chưa từng nghe nói đến cái tên “Nguyệt Quang
xã”; họ nói: tổ chức phản động này mượn danh nghĩa hâm mộ nhạc cổ điển để thu
hút các thành viên vào hoạt động phản cách mạng. Cho nên em nghĩ ngay rằng anh
vốn rất mê nhạc cổ điển” Tôi bỗng lặng thinh. Tôi chưa từng nói với Y Y về
chuyện “Nguyệt Quang xã”, hồi trước ông Giang Mật cũng dặn dò tôi đừng cho bất
cứ ai biết, bây giờ tôi mới hiểu cái dụng ý sâu xa trong đó. Nhưng Y Y vốn
rất thông minh, thấy tôi do dự, nàng đã nhận ra ngay: “Chẳng lẽ bọn họ nói là sự
thật? Thì ra anh đã dấu em thật!” Tôi ngớ ra không biết trả lời ra sao, ánh
mắt Y Y chứng tỏ dường như nàng đã hiểu rõ tất cả, nàng hỏi giọng hơi run run:
“Nhưng dù sao anh cũng phải cho anh Kình Tùng biết, đúng không? Anh em như chân
với tay, đàn bà như tấm áo, và rỗng tuyếch như lời nói vu vơ đúng không?” Giữa Y
Y với Kình Tùng, có lẽ sẽ mãi mãi khắc nhau như nước với lửa. Tôi đành cho Y
Y biết toàn bộ những điều đã xảy ra trong mùa đông năm ngoái,Y Y thấy mấy tháng
nay tôi toàn vui chơi với đám oan hồn, nàng quá kinh hãi, ánh mắt đầy vẻ khó
hiểu. Tôi bình thản nói: “Nếu họ lại hỏi nữa thì em cứ nói ra, ít ra em cũng
được thanh minh cho gọn chuyện. Huống chi, “Nguyệt Quang xã” thật sự không phải
là tổ chức đặc vụ gì hết, anh không việc gì phải hổ thẹn với lương tâm”. Y Y
đá mạnh tôi một cái: “Anh coi em là hạng người gì vậy? Tuy “Nguyệt Quang xã”
thực sự trong sáng, nhưng từ lâu đã bị họ coi là tổ chức phản cách mạng, nếu tổ
điều tra anh có quan hệ với “Nguyệt Quang xã” thì họ sẽ theo cái lý khai mà gán
tội cho anh, anh chớ dại dột mà công nhận chuyện này!” Tôi gật đầu: “Tất
nhiên là anh hiểu, anh chỉ lo em phải chịu sức ép quá căng. Anh cũng không nói
với Kinh Tùng, nghe nói gần đây cậu ấy cũng đang bị điều tra”. “Cũng là vì
anh à?” Tôi gật đầu. Y Y trầm ngâm một lát, khẽ thở dài: “Anh ấy cũng thực
đáng ái ngại. Một con người ngay thẳng đường hoàng như vậy, có lẽ trước đây em
đã quá nghiệt ngã với anh ấy”. “Tất cả đều là tại anh”. Tôi chợt nghĩ: tại
sao những người xung quanh tôi đều bị vướng mắc? Hai vợ chồng bác tôi, Y Y và
Kinh Tùng nữa. Phải chăng sự tồn tại của tôi là sai lầm quá
lớn?
23/5/1967
Hôm nay tôi bị đưa ra Khu xét xử công khai. Ở
trường này, có tôi và hai sinh viên cùng trường đều có “vấn đề xuất thân” nghiêm
trọng bị đưa ra “phê đấu”; ngoài ra còn một số sinh viên của một số trường khác
cũng bị na ná như vậy, cả thảy là 18 người. Chúng tôi bị quần chúng phê đấu gọi
đùa là Thập bát la hán. Giữa chừng cuộc xét xử, một sinh viên trong số này nhảy
xuống dưới sàn, tuy không chết nhưng vỡ đầu chảy máu và bị gãy chân. Khi trở
về, cặp kính của tôi bị vỡ, khắp người là nước bọt, đầu gối sưng vù vì bị quỳ
khá lâu. Có lẽ đời người bị làm nhục đến thế này là cùng cực
chăng?
Diệp Hinh chìm đắm trong những chuyện xưa cũ ghi trong cuốn nhật
ký, cô quên bẵng rằng mình đang ngồi trong bóng tối. Cô rất xót xa cho vị chủ
nhân của cuốn nhật ký, cô thở dài rồi lại thở dài... Và trong lúc cô thở dài thì
có một tiếng thở dài khác vọng đến, khiến con tim Hinh như thắt lại. Một
giọng nói ở ngay phía sau gáy cô: “Cô có còn muốn sống nữa hay
không?” |
|
|
|
 |
orange
Thành viên năng động
Gia nhập: 17 Jan 2010
Đến từ: Hà nội
Trạng thái: Offline
Bài viết: 507
|
Tùy chọn bài viết
Trích dẫn Trả lời
Đăng: 11 Mar 2010 vào lúc 8:30am |
Eo ôi, đọc P1 thui mà đã sởn gai ốc roài! 
|
|
Quá khứ đã là lịch sử. Tuơng lai là một mầu nhiệm. Còn hiện tại là một món quà của cuộc sống. Chính vì thế mà chúng ta gọi đó là tặng phẩm
|
 |
miku6185
Thành viên năng động
Gia nhập: 21 Feb 2010
Trạng thái: Offline
Bài viết: 114
|
Tùy chọn bài viết
Trích dẫn Trả lời
Đăng: 11 Mar 2010 vào lúc 9:34am |
|
post nốt đi bạn ơi.....
|
 |
dyelvn
Điều hành
Gia nhập: 19 Dec 2009
Trạng thái: Offline
Bài viết: 695
|
Tùy chọn bài viết
Trích dẫn Trả lời
Đăng: 11 Mar 2010 vào lúc 10:06am |
Chương 12 Chuẩn đoán bệnh thần kinh
|
Hinh kinh ngạc quay đầu
lại, thấy có đến sáu bẩy người đứng đó. Đèn điện được bật sáng, Hinh nhận ra
ngay Chu Mẫn, Trần Hy và thấy Lý giảng viên phụ đạo, ba người kia chắc là nhân
viên phòng bảo vệ, Hinh đã gặp một trong số đó là phó phòng bảo vệ Vu Tự
Dũng. Thầy Lý nét mặt trầm tư: “Bạn Hinh thật quá dại dột, có biết làm thế
này sẽ bị trường thi hành kỷ luật không?” Hinh vốn định nói: “Tại sao mọi
người lại có thể tìm đến đây?”. Nhưng lúc này cô đã hiểu rõ cả, cô gườm gườm
nhìn Chu Mẫn và Trần Hy, rồi nói với thầy Lý: “Thưa thầy, em biết là mình đã
sai. Nhưng, vì em thật sự lo lắng bi kịch “vụ án mưu sát 405” sẽ tái diễn. Em
nghe nói vụ việc này có liên quan đến vụ án “Nguyệt Quang xã” của trường ta ngày
trước, cho nên em tìm đọc hồ sơ”. Ông Dũng gắt gỏng: “Không ngờ ở đây lại có
một nữ Sê-lốc Hôm! Các cao thủ của Sở công an đã kết luận các vụ việc kia là tự
sát, nay cô lại nói khác hẳn hay sao? Nếu cô lo bi kịch đó tái diễn thật, thì
trước hết cô hãy chỉnh lại tư tưởng của cô đi đã!” Ông Dũng nói quá cay
nghiệt, thầy Lý bèn nói: “Anh Dũng ạ, em Hinh tuổi đời còn trẻ, rất có khả năng
tiếp thu, chúng ta nên kiên nhẫn giáo dục là chính...” Thấy vị giảng viên mới
tốt nghiệp ít lâu muốn giáo huấn mình, ông Dũng cười nhạt: “Vâng! Thầy Lý rất
giỏi khoa sư phạm, mời thầy ký cho tôi một chữ vào đây. Và sáng mai, à không,
ngay bây giờ xin mời thầy và cô học trò cưng của thầy cùng đến phòng bảo vệ để
nói chuyện cho kỹ đã!” Thầy Lý nhìn Hinh, rồi thở dài: “E rằng không thể! Nhà
trường đã bố trí một hoạt động quan trọng trong sáng nay, cần gì thì anh cứ hỏi
luôn đi”. “Đây là bác sĩ Đằng và bác sĩ Từ, được nhà trường mời đến để giúp
cô giải quyết vấn đề tâm lý... và tư tưởng. Cô đang nghĩ những gì, thì cứ nói
hết với họ, chúng tôi sẽ lui ra để các vị nói chuyện cho tiện”. Ông Duy Kim
Chúc, trưởng phòng quản lý sinh viên Học viện Y học Lâm sàng thận trọng giới
thiệu với Diệp Hinh. Ông đã nghe thầy Lý báo cáo về tình hình đêm qua: vào lúc
nửa đêm, cô gái yêu kiều này đã lẻn ra khỏi ký túc xá, hai bạn nữ cùng phòng là
Chu Mẫn và Trần Hy đã bám theo, thấy cô ta vào khu nhà hành chính cũ, sau đó
không biết đã đi đâu. Trần Hy đành ở lại canh chừng, Chu Mẫn thì đến gặp giảng
viên phụ đạo là thầy Lý - người luôn ở trong trạng thái “sẵn sàng”. Thầy Lý rất
thận trọng bèn mời ba nhân viên phòng trực ban bảo vệ giúp đỡ, đi kiểm tra từng
phòng trong khu nhà hành chính cũ. Nhưng đã đi khắp các phòng và phòng thí
nghiệm cũ đều không thấy bóng Diệp Hinh. Nhưng Vu Tự Dũng đã ở học viện Giang
Kinh lâu năm, bỗng nhớ đến tầng hầm khá rộng là địa điểm cũ của Phòng hồ sơ. Mọi
người tìm đến cầu thang để xuống thấy đèn ở lối đi bật sáng, cửa vào phòng hồ sơ
không khóa bèn đoán chắc Diệp Hinh đang ở trong đó. Đúng thế, Diệp Hinh đang soi
đèn pin đọc một bộ hồ sơ cũ... Hai vị bác sĩ tiến lại hồ hởi bắt tay Diệp
Hinh. Hinh bình thản nhìn họ: bác sĩ Đằng trạc 35 tuổi, dáng người dong dỏng,
khuôn mặt rạng rỡ vui tươi, đôi mắt rất có thần, đang mỉm cười rất thân thiện;
bác sĩ Từ trạc tuổi đã ngoài 50, vóc người tầm thước, có phần đẫy đà, bộ tóc hơi
hói, tình cảm thể hiện không mấy rõ rệt trên gương mặt. Diệp Hinh không cần hỏi
cũng hiểu rằng các bác sĩ đến để giải quyết vấn đề “tư tưởng” phần nhiều là các
bác sĩ tâm lý. Có lẽ họ là bác sĩ của khoa Tâm thần trong bệnh viện. Hinh có
cảm giác mình bị làm nhục: thì ra các bạn và thầy giáo đã cho rằng mình có vấn
đề tâm lý thậm chí là vấn đề tinh thần. Mình chỉ muốn điều tra một giai đoạn
lịch sử để tránh tái diễn bi kịch kia mà! Liệu ai có thế tin mình
đây? Nhưng cô lại nghĩ: chính mình cũng có lúc dường như không tin ở mình nữa
là. Cô bình thản hỏi ông Kim Duy Chúc: “Thưa thầy Chúc, em nghe nói trường ta
có quy định rằng, các sinh viên có vấn đề tâm lý, trước hết nên đến phòng tư vấn
tâm lý của y tế trường, sau đó mới quyết định xem có cần xin bệnh viện trợ giúp
hay không. Sao lại đặc biệt quan tâm đến em thế này ạ?” Ông Chúc ngớ ra trước
câu hỏi này, không phải vì chưa được nghe trả lời mà là vì sự bình tĩnh thản
nhiên và tư duy mạch lạc của Hinh trong khi nói khiến ông không thể tin cô gái
này thuộc nhóm “bệnh nhậ tâm thần phân liệt giai đoạn đầu”. “Chúng tôi không
nhận định rằng có vấn đề tâm lý gì cả, mà là vì gần đây nghe nói em có nhiều
điểm bất thường trong sinh hoạt, với phương châm dự phòng là chính, nhà trường
muốn giúp em vượt qua mọi khó khăn”. Nói đến đây, ông Chúc nhận thấy ánh mắt của
Hinh khiến ông rất mất tự nhiên, ông nhấn mạnh: “Ngoài ra, em có vài biểu hiện -
nói đúng ra là vi phạm nội quy nhà trường, chúng tôi rất muốn biết nguồn cơn ra
sao, chứ không muốn thiếu sát sao để rồi kỷ luật một sinh viên giỏi”. Quả
nhiên Hinh hơi bị tác động, đúng là mình đã lẳng lặng đi Nghi Hưng, rồi lại mò
vào phòng hồ sơ lúc đêm hôm... đều là vi phạm nội quy, nhà trường hoàn toàn có
thể kỷ luật mình. Nếu mình không hợp tác thì hậu quả thật khó lường, khó mà giải
mã được “vụ án mưu sát 405” đã đành, mà còn mất cả cơ hội học đại học nữa. Hinh
bèn nhẹ nhàng nói: “Cám ơn thầy Chúc và lãnh đạo trường đã quan tâm, em xin
trình bày với hai vị để giải quyết vấn đề tư tưởng của em”. Trong lúc Hinh
nói, bác sĩ Từ Hải Đình lặng lẽ quan sát cô. Ông nhớ lại các nữ sinh của Đại học
Y Giang Kinh 16 năm trước từng được ông điều trị: Tưởng Dục Hồng, Hạ Tiểu Nhã,
Thẩm Vệ Thanh, Nghe Na, Thôi Lệ Ảnh... dường như đều có dáng vẻ thanh tú như cô
gái đang ngồi đây, chỉ hiềm kết cục của họ đều khiến mọi người phải mãi mãi xót
thương. Nghĩ đến đây ông Đình lại thấy nhói ở tim. Các bác sĩ nói ông có dấu
hiệu bệnh động mạch vành tim, nhưng ông tự biết, cái đau này xuất phát từ đáy
lòng mình. Không thể để cô gái này lại đi vào con đường của các nữ sinh
kia! Trên đường đi đến Đại học Y Giang Kinh, ông kể những chuyện cũ với đồng
nghiệp Đằng Lương Tuấn, ông Tuấn nghe xong liền phán đoán: “Có lẽ anh nên cho
các nữ sinh ấy nằm viện dài ngày hơn...” Nhưng ông Đình thở dài: “Tôi lại nghĩ
khác: theo tôi nên cho họ sớm ra viện”. Ông Tuấn không nói gì nữa, ông cảm thấy
nói chuyện học thuật với vị bác sĩ có thâm niên này rất khó ăn ý. Gần đây cả hai
vị đều nộp đơn xin công nhận chức danh cao cấp, cả hai cùng đang là ứng viên
chức chủ nhiệm khoa, khó tránh khỏi sẽ có chỗ “vênh nhau”. Khi ông Đình còn
trầm tư, thì ông Tuấn đã trò chuyện với Hinh vài câu, bảo cô ngồi vào đi-văng,
và ra hiệu mời ông Chức cứ lui ra. Phòng quản lý sinh viên đã mượn phòng khách
của viện Y học lâm sàng để bố trí cuộc nói chuyện này. Trước khi lui ra, ông
Chúc còn pha trà cho cả ba người. Chờ ông Chúc khép cửa lại, ông Tuấn mới ôn tồn
nói: “Ông trưởng phòng quản lý sinh viên của các cô nói hơi quá lời, họ mời
chúng tôi đến không phải là để chẩn đoán gì mà chỉ để trò chuyện với cô. Nếu cô
không có vướng mắc gì về tư tưởng thì chúng tôi sẽ nói với nhà trường rằng các
vị đã cường điệu sự việc. Đương nhiên, họ lo ngại, cũng không phải là không có
lý”. Giọng ông Tuấn có phần nghẹn ngào. “Nghe nói gần đây cha mẹ cô đã ly hôn,
cha lại vừa qua đời, đương nhiên sẽ tạo thành áp lực - bất cứ ai trong hoàn cảnh
này cũng vậy”. Hinh lại thấy nao nao thương cảm, ít hôm nay cô chạy ngược
chạy xuôi, nỗi buồn về cái chết của cha lắng dịu, thực ra cũng vì cô tạm không
nghĩ nhiều đó thôi. Cô gật đầu, tiếp tục nghe ông Tuấn nói: “Nghe nói, trước khi
mất, cha cô có đến thăm cô?” “Nói chính xác hơn là, sau khi cha cháu bị liệt
não, thì cháu gặp lại ông. Cháu biết, nói thế này thật nực cười, nhưng cháu cũng
chẳng hiểu tại sao lại thế”. Ông Tuấn gật đầu: “Cô đừng tự trách mình, điều
này có gì đáng cười đâu? Cô nhìn thấy vẫn là cô nhìn thấy, không ai có thể xì
xào gì hết! Khi cha cô đến gặp thì cô đang ở đâu? Có ai khác nhìn thấy
không?” Hinh hồi tưởng lại: “Cháu nhớ rằng sau khi cháu kết thúc dẫn chương
trình cuộc thi hát tự biên tự diễn, rồi ra ngoài nói chuyện với một người vừa dự
thi, thì cha cháu đứng phía sau gọi cháu, cháu vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ. Hai
cha con cháu đi dạo trong sân trường, cũng không giới thiệu ông với ai cả. Đang
đi dạo, cha thấy cháu bị lạnh, ông bèn cởi chiếc áo jac-ket ra choàng lên vai
cháu và để lại cho cháu luôn. Cháu cũng không hiểu tại sao...” “Vì sao cha cô
qua đời?” “Bị ung thư não”. Nghe nói thế, ông Tuấn nhướng cặp lông mày mỉm
cười: “Không phải tôi nói quá lên đâu: cô là một cô gái rất cứng cỏi. Nghe nói
trước khi cha cô qua đời thì cha mẹ cô đã ly hôn, mà cô vẫn dẹp được mọi tác
động ấy sang một bên để thi giữa học kỳ với kết quả cao, còn được điểm tuyệt đối
ở môn giải phẫu”. Hinh thấy ông ta nhắc đến môn giải phẫu, thì cô đã hiểu ra:
“Cám ơn bác đã khen, có phải bác muốn cháu nói về cái tiêu bản cơ thể đó không
ạ? Cháu đã nhìn thấy, nhưng người khác thì lại không nhìn thấy nó. Vốn dĩ chính
cháu cũng bắt đầu nghi ngờ, liệu có phải mình đã nhìn thấy cái tiêu bản cơ thể
rất hoàn hảo ấy không. Nghe có vẻ như quá ư hão huyền. Nhưng đến nay thì cháu
biết chắc chắn cháu đã thật sự nhìn thấy nó. Cái tiêu bản ấy hoàn toàn có
thật!”. Hinh nhớ đến những ghi chép về tiêu bản cơ thể trong cuốn nhật ký kia,
cùng với những nỗi éo le sinh li tử biệt trong đó, cô lại thấy rất xúc
động. Ông Đình nhẹ nhàng hỏi: “Tại sao cô nói cái tiêu bản ấy hoàn toàn có
thật?” Hinh trả lời: “Câu chuyện này rất dài, cháu đề nghị các bác cứ đến đọc
bộ hồ sơ mà đêm qua cháu đã xem!” “Hồ sơ ấy nói về vấn đề gì?” “Ánh
trăng”. Ông Đình hơi sững sờ: vẫn hai cái chữ này, ông rất sợ phải nghe đến
nó. Những nữ sinh nhắc đến hai chữ này, đều không thoát được nỗi bất
hạnh. “Ánh trăng là tên một nhóm văn nghệ của trường này - “Nguyệt Quang xã”
- từ những năm 50 bị coi là một tổ chức phản cách mạng”. “Tại sao cô
biết?” “Bác có nghe nói về “vụ mưu sát 405” không: hầu như mỗi năm lại có một
nữ sinh ở phòng 405, khu nhà 13 nhảy lầu mà chết, nhưng có một người sống sót
tên là Thẩm Vệ Thanh. Chị Thanh đã kể với cháu”. Ông Đình vẫn nhớ ra Vệ
Thanh, đúng cô ta là người duy nhất may mắn sống sót trong “vụ án mưu sát 405”.
Ông bình tĩnh trở lại: “Cô đã tìm gặp cô ấy à? Cô ấy... vẫn khỏe chứ?” “Chị
ấy... đã chết, đúng vào hôm cháu gặp chị ấy!” Hinh không nén được nữa, cô trào
nước mắt. Ông Đình nhướn người về phía trước, giọng run run: “Gì thế? Đã chết
rồi? Cô ấy... cô ấy đã chết như thế nào?” “Nhảy lầu”. Hinh khóc thút thít,
không nỡ nhớ lại cái cảnh Vệ Thanh nhảy lầu. Ông Tuấn không ngớt cau mày,
không chỉ vì ông Đình và Hinh nói chuyện chẳng đâu vào đâu, mà còn vì ông thấy
một bác sĩ khoa thần kinh giàu kinh nghiệm như ông Đình sao lúc này lại mất tư
thế như vậy! Ông Đình cũng nhận ra ngay, ông thầm trách phòng quản lý sinh
viên đã thiếu chu đáo, không nói rõ với ông việc Diệp Hinh lén đi đến huyện Nghi
Hưng. Một chuyện chết người, sao lại không tác động đến trạng thái tinh thần của
Diệp Hinh được. Ông Tuấn thấy gương mặt của ông Đình hơi giật giật, ý chừng
tỏ ý có lỗi, ông bèn nắm lấy quyền chủ động để hỏi: “Cô thường hay kể lại với
các bạn cùng phòng về những giấc mơ của mình, cô có thể nói cụ thể với chúng tôi
đuợc không?” Diệp Hinh uể oải bước đi về phía ký túc xá. Nhớ đến những câu
hỏi của hai vị bác sĩ vừa nãy, có vẻ rất lịch sự và tự nhiên, thực ra là họ đang
chẩn đoán. Họ sẽ kết luận thế nào đây? Còn những chuyện gì nữa đang chờ đón cô ở
phía trước? Cô thấy tiếc vì đêm qua chưa đọc xong cuốn nhật ký và các hồ sơ
khác, nên vẫn chưa rõ “Nguyệt Quang xã” có liên quan gì đến “vụ án mưu sát 405”?
Đêm qua nhân viên phòng bảo vệ đã xét hỏi cô rất lâu, một nữ nhân viên đã lục
soát và thu mất chiếc chìa khóa đồng và cuộn phim. Vậy là một đoạn lịch sử lại
sắp bị chôn vùi. Mình phải làm gì bây giờ? Nghĩ mãi nghĩ mãi, Hinh chợt nhận
ra một điều: các câu chuyện cũ mà cuốn nhật ký nhắc đến, nhất là chuyện về
“Nguyệt Quang xã”, đều xảy ra tại khu nhà giải phẫu, chuyện đã xôn xao thì những
ai thường đến khu nhà này đều không thể không biết. Hinh nghĩ ngay đến ông già
gù. Tuy Âu Dương Sảnh từng nói ông già ấy giải thích về “ánh trăng” thì toàn là
râu ông nọ cắm cằm bà kia, nhưng có lẽ vì ông ta cố ý từ chối nên mới ậm ừ như
vậy. Nghe nhắc đến “ánh trăng” mặt ông ta biến sắc, rõ ràng ông ta biết rõ ít
nhiều. Hinh bèn đi tìm ông già. Khi đang định đi về hướng khu giải phẫu,
thì cô bỗng thấy là lạ... bèn ngoái đầu lại, nhận ra Chu Mẫn và Trần Hy ở phía
xa xa đang đi theo cô. Cô thầm nghĩ “thật đáng ghét”, nhưng lại thấy thực ra họ
cũng vì sự an toàn của cô, thì chẳng có gì đáng trách cả. Đúng là những hành
động của cô gần đây khiến những người bình thường thấy khó hiểu. Nhưng Sảnh
và Tạ Tốn nữa nhất định sẽ hiểu cho cô. Này anh chàng Tạ Tốn, nếu anh không
xuất hiện nữa thì tôi sẽ cố gắng quên anh luôn! Hinh vẫn quay về khu ký túc
xá, nhưng cô đi lối cầu thang bên cạnh để lên tầng hai, rồi lại đi xuống bằng
lối cầu thang ở đầu bên kia, tạo ra “chênh lệch múi giờ” với Chu Mẫn và Trần Hy.
Thế là cô dễ dàng cắt đuôi, rồi rảo bước đến khu nhà giải phẫu. Vào rồi, cô
tiến thẳng đến gian chế tác tiêu bản ở tận cùng tầng một. Cửa căn phòng nhỏ đang
khép nhưng không khoá. Cô gõ cửa, không thấy động tĩnh gì bèn đẩy cửa bước vào.
Căn phòng trống trải, chỉ có một chiếc bàn cơ động phục vụ giải phẫu, trên đó có
vài thứ dụng cụ Hinh vừa quay người để bước ra thì suýt nữa đâm sầm vào một
người, chẳng rõ ông ta đã không một tiếng động đứng ngay sau lưng cô từ bao giờ.
Nếu không phải đang là ban ngày chắc cô đã khiếp hãi kêu lên. “Chào thầy
Côn!” Đó chính là thầy giáo trẻ Chương Vân Côn dạy môn giải phẫu. “Diệp Hinh!
Tôi đứng ở cửa trông thấy bạn, nhớ rằng bạn đã nghỉ mất hai tiết học, có lẽ là
bạn đến nhờ tôi phụ đạo! Nào, chúng ta lên gác ngồi!” Hinh cười có ý xin lỗi:
“Em đến đây định tìm một bác kỹ thuật viên thuộc phòng nghiên cứu giảng dạy của
các thầy, bác ấy gù... thầy có biết không à?” Thầy Côn à một tiếng, rồi gật
đầu: “Tức là bác Phùng, tôi biết chứ! Có lẽ bác ấy là người có thâm niên lâu
nhất ở phòng nghiên cứu giảng dạy này. Tính bác ấy hơi kỳ cục một chút nhưng mọi
người đều rất tôn trọng bác ấy. Bác ấy thường không đến làm vào ban ngày. Bạn có
việc cần à? Nếu có thể nói với tôi, thì tôi sẽ nhắn giúp cho”. Hinh lắc đầu:
“Không cần thiết ạ. Cũng không có gì phải gấp vội. Để lần sau gặp hãy hay”. Cô
cố ý lái sang chuyện khác: “Chiều nay em còn có bài thực nghiệm môn sinh lý, nên
hôm nay chưa chắc có thời gian để học bù, nhưng em muốn mượn giáo trình của hai
tiết vừa rồi...” “Được, bạn lên gác với tôi”. Muốn lên tầng hai, thì phải
ra khỏi tầng một rồi lên cầu thang lộ thiên ở phía nam ngôi nhà. Lên rồi, hai
người dừng trước một phòng làm việc hơi nhỏ, Vân Côn nói: “Đây rồi, vào
đi!” Hinh vẫn nhận thấy cặp mắt đầy nhiệt tình của Vân Côn sau cặp kính khá
dày, cô bước vào gian phòng. Một chiếc bàn làm việc khá rộng, một giá sách và
một chiếc giường gấp cơ động choán gần hết gian phòng, gần như không còn chỗ
lách chân. Vân Côn tỏ ý áy náy: “Xin lỗi nhé, ở đây bừa bộn chật chội quá, lẽ ra
chẳng thể tiếp khách ở đây. Bạn ngồi tạm trên giường vậy. Tôi quên chưa hỏi, bạn
đã ăn cơm chưa?” Hinh tò mò quan sát căn phòng, tuy chật chội nhưng bàn làm
việc, giá sách, chiếc giường đều rất nghiêm chỉnh có trật tự. Đủ biết Vân Côn
sống rất ngăn nắp, rất khớp với vẻ ngoài của anh. Cô không ngồi, mỉm cười và
nói: “Em đã ăn rồi, thầy Côn khỏi phải bận tâm. Em xin mượn cuốn giáo trình rồi
về luôn thôi!” Cô liếc nhìn chiếc khung ảnh làm bằng gỗ đượm màu thời gian
đang đặt trên bàn, trong đó có tấm ảnh đen trắng của một cô gái. Hinh cũng biết
lâu nay có nhiều hiệu ảnh chụp ảnh nghệ thuật đã chế tác các bức ảnh đen trắng.
Cô gái có đôi mắt và cặp lông mày tuyệt đẹp, dáng vẻ cao quý thanh tao, rực rỡ
bội phần. “Đây chắc là bạn gái của thầy? Chị ấy xinh quá, và còn rất hiền dịu
nữa”. Vân Côn chăm chú nhìn tấm ảnh, rồi thở dài nói: “Tôi đâu có được cô bạn
gái xinh đẹp thế này! Chỉ là cô bạn học, nay cô ấy đang ở đâu tôi cũng chẳng
biết nữa. Những lúc làm việc mệt mỏi thì ngồi ngắm, bức ảnh giúp tôi tỉnh táo
đầu óc”. Hinh đoán rằng Vân Côn có ý muốn giấu, nên cô không hỏi nữa, cô
cười: “Chẳng lẽ thầy ở ngay đây à?” “Trường cũng đã bố trí nhà ở ký túc xá
cho tôi, nhưng nhiều khi ngồi đọc sách quá khuy, nên lại ngại về đó, bèn ngủ lại
đây”. Hinh đã hết chuyện để nói, bèn chào ra về. Nhưng cô chưa chịu về ngay,
cô lại vào tầng một xem sao, thì trông thấy ông già gù đang ở trong một căn
phòng thực nghiệm. “Bác Phùng còn nhớ cháu không?” Ông Phùng chậm chậm
quay người lại, nheo mắt. Nhận ra Diệp Hinh, mắt ông bỗng trợn tròn có vẻ như
rất sợ hãi: “Cô... tại sao cô lại đến đây?” “Học kỳ này cháu học môn giải
phẫu, nên sẽ phải thường xuyên vào đây. Lúc này chẳng phải sau 12 giờ đêm, cháu
có sai gì đâu ạ?” Ông Phùng lạnh lùng hỏi: “Vậy thì cô muốn gì?” “Cháu
muốn hỏi thăm bác một chuyện, bác có nghe nói về “ánh trăng” không?” Đôi mắt
ông Phùng mở càng to hơn, nhưng ông lập tức lại tỏ ra rất thờ ơ: “Tôi chưa từng
nghe nói về “ánh trăng” gì cả, nhưng tôi nhớ là cô đã từng thấy tôi xử lý tử thi
dưới ánh trăng. Tôi mong cô chẳng nên quá hứng thú đối với “ánh
trăng”.” “Thực ra cháu đã biết cả rồi, bác chẳng cần phải giấu cháu!” “Cô
biết về cái gì?” Ông Phùng có phần bối rối, nhìn chằm chằm vào Diệp
Hinh. Hinh nói rõ ràng từng tiếng một: “Cháu đã biết về “Nguyệt Quang xã”,
cũng biết rằng “Nguyệt Quang xã” có liên quan đến “vụ án mưu sát 405”. Trước đây
chúng cháu chưa nói cho bác biết: chúng cháu đều đang ở phòng 405 là nơi hầu như
năm nào cũng có người chết!” Ông Phùng run run, vô số sự việc và ý niệm xa
xưa lướt nhanh trong đôi mắt đục mờ của ông. Nhưng rồi ông lại đưa mắt nhìn
xuống, nói chậm rãi: “Tôi chưa bao giờ nghe nói về “Nguyệt Quang xã”, cô khỏi
cần mệt óc đoán mò làm gì nữa!” “Nhưng lần trước bác đã...” “Thôi nào! Tôi
còn rất nhiều việc phải làm, cô hãy về mà làm các việc của mình đi!” Ông Phùng
bỗng thô bạo nhắt lời Hinh. “Cháu còn có thể lại đến gặp bác được không ạ?”
Trông Hinh thật đáng ái ngại. Ông Phùng đã quay mặt đi nhưng vẫn có thể nhận
thấy cái bướu ở lưng ông đang rung rung. “Không!... Hãy để cho tôi có ít thời
gian đã. Nhưng dù sao cô cũng không được đến đây tìm tôi vào ban đêm”. Kết
thúc buổi học thực nghiệm giải phẫu, Diệp Hinh đi một mình ra khỏi phòng thực
nghiệm. Cô vẩn vơ cảm thấy các bạn đều nhìn cô bằng ánh mắt khang khác, thậm chí
còn nghe thấy họ lầm rầm bàn tán, cô mường tượng thấy họ còn giơ tay chỉ trỏ này
khác... Trên đường trở về, không ai đi cùng, cô cũng không muốn có ai đi cùng,
để tận hưởng sự im lặng tối đa. Có lẽ mình nên ngủ một giấc thật đẫy, rồi tỉnh
lại sẽ nhận ra rằng tất cả chỉ là một giấc mơ không mấy ngọt ngào... Nhưng rõ
ràng đây không phải là nằm mơ. Khi bước ra khỏi phòng thực nghiệm, Hinh đã có
cảm giác Chu Mẫn và Trần Hy đang đi theo mình. “Diệp Hinh!” Thấp thoáng bóng
một nữ sinh đang ở phía lùm cây, Hinh nhận ra ngay đó là một bạn sinh viên học
lớp trên của trường. Cô ta đi đến nơi và nhanh nhẹn đặt vào tay Hinh một phong
thư, nói khẽ: “Mau mở ra xem đi!” Rồi quay ngoắt đi luôn. Hinh vẫn bước đều
như lúc nãy, và thận trọng mở phong bì. Bên trong là một tờ giấy được xé vội từ
một cuốn sổ tay. Chỉ thấy viết mấy dòng chữ: “Chúng tôi vừa kiến tập ở bệnh
viện tâm thần, nghe thấy có bác sĩ nói chuyện riêng rằng nhà trường đang bàn về
việc đưa em đi nằm viện tâm thần. Đã có hai bác sĩ tiếp xúc với em, và đưa ra
kết luận không mấy có lợi cho em, rằng cần khẩn trương đưa em vào nằm viện. Mong
em hãy có sự chuẩn bị, nếu có thể không đi, thì đừng đi”. Chữ ký là của Du
Thư Lượng. Tuy đã lường trước, nhưng Hinh vẫn không ngờ nhà trường và bệnh
viện lại nhanh chóng đưa ra quyết định như thế. Cô vừa lo sợ vừa tức giận, nhưng
cũng lại thấy vui vui. Tức giận là vì các thầy và các chuyên gia ở bệnh viện
đã không tìm hiểu thêm về cô, chỉ xét hiện tượng bề ngoài rồi kết luận cô có vấn
đề thần kinh; thấy vui là vì Du Thư Lượng vẫn tin ở sự tỉnh táo của cô - thậm
chí anh đã mạnh dạn khuyên cô “nếu có thế không đi, thì đừng đi”. Kiến thức
thông thường giúp cô hiểu rằng một người khỏe mạnh phải sống giữa đám bệnh nhân
tâm thần thì chỉ có hại mà thôi. Một người khỏe mạnh như cô, tại sao phải từ
bỏ nhà trường đầy sức sống để đến ở với đám bệnh nhân tâm thần? Nhưng cô nên
chuẩn bị thế nào để tránh được cái nạn này? Cô bỗng thấy lòng trống trải vô
cùng, càng cố suy tính thì lại càng thấy đau đầu. Cô thấy thấp thỏm không yên.
Đây chẳng phải lần đầu tiên cô thấy đau đầu. Chẳng lẽ mình cần được bác sĩ giúp
đỡ thật hay sao? Nhưng nhất thiết không thể là bác sĩ khoa thần kinh! Đầu
đau kinh khủng. Hinh bước chậm rãi rồi tựa vào hàng cột bên đường vẫn dùng để
treo áp-phích, hít thở thật mạnh, nhưng óc cô vẫn cố hết sức để suy nghĩ. Và
chỉ nghĩ đến hai chữ “bỏ trốn”. Trốn khỏi trường, trốn về nhà. Nếu sống với
mẹ, thì mình sẽ nói là để dường bệnh, chắc nhà trường cũng sẽ phải yên
tâm. Nhưng lúc này trốn về nhà đâu có dễ. Chu Mẫn và Trần Hy bám sát mình như
bóng với hình, họ sẽ đi theo ra ga, sẽ dùng mọi cách để ngăn cản mình. Và dù
có về đến nhà, thì chắc mẹ cũng lại nghe theo đề nghị của bác sĩ để đưa mình vào
nằm viện. Nhưng dù sao thì bây giờ cũng không thể quay lại ký túc xá, về đó
khác nào chui đầu vào rọ. Trường đã quyết định phải đưa mình đi viện, chưa biết
chừng đang có người chờ ở ký túc xá để “áp giải” mình! Nhưng cô vẫn cứ bước
về hướng ký túc xá, cô không muốn để lộ ra hiện tượng gì bất thường để Chu Mẫn
và Trần Hy nghi ngờ. Sắp đến gần khu ký túc xã, cô đưa mắt nhìn, cô như hít phải
làn gió mạnh: một xe buýt mi-ni màu trắng đang đỗ ở sân trước khu nhà 13 mà cô
ở. Chắc là người ta đang chờ để đưa cô đi viện. Kể cũng hay, các thầy còn để
cho mình học nốt bài thực nghiệm, chắc vì sợ rằng sau khi tan lớp mà lôi mình
đi, sẽ gây nên cảnh ầm ỹ náo loạn, thì không hay. Bây giờ chỉ còn cách lợi
dụng cơ hội cuối cùng để thoát khỏi cảnh ngộ đang chờ cô. |
|
|
|
 |
dyelvn
Điều hành
Gia nhập: 19 Dec 2009
Trạng thái: Offline
Bài viết: 695
|
Tùy chọn bài viết
Trích dẫn Trả lời
Đăng: 11 Mar 2010 vào lúc 10:07am |
Tiếp nào Chương 13 Trôi dạt
|
Diệp Hinh hiểu rằng mỗi
bước tiến gần ký túc xá, thì số phận trớ trêu cũng áp sát cô gần thêm một
bước. Cô bỗng vụt chạy như bay. Trước đó cô đã dự tính sẵn hướng đi. Chỉ
sau vài giây cô đã chui vào khu nhà ăn số 3 vẫn còn chưa chính thức hoạt động.
Hinh bất ngờ hành động khiến Chu Mẫn, Trần Hy trở tay không kịp nên đành chạy
theo ngay. Nhưng Hinh đã biến mất trước tầm mắt họ. Đi qua nhà ăn số 3, thì
đến hai dãy ký túc xá cán bộ viên chức. Hinh chạy quanh hai dãy nhà này một vòng
rồi chạy vào khu nhà ăn số 5. Chỉ sau vài lần luồn lách, Hinh đã cắt được
“cái đuôi” Chu Mẫn, Trần Hy. Cô đi chậm lại, dần dần thở đều rồi ung dung đi qua
nhà ăn số 5, bước vào “khu phố tạp hóa”, cô thấy đã được an toàn hơn
nhiều. Đi trên quãng đường giữa hai dãy các cửa hiệu chưa được bao xa, Hinh
bỗng nghe thấy những bước chân rầm rập chạy phía sau. Ngoảnh nhìn lại, Hinh nhận
ra hai người trông quen quen - chính là hai nhân viên bảo vệ mà cô đã gặp sáng
sớm hôm nay. Hinh lại đành bỏ chạy thục mạng. Chạy qua “phố tạp hóa” đến
phía trước là nhà đun nước 5 giờ rưỡi sáng mới bắt đầu cung cấp nước sôi, cho
nên lúc này không có sinh viên nào xách phích ra lấy nước, phía trước nhà vắng
tanh. Hinh chạy qua hàng vòi nước thứ nhất rồi ngoái đầu lại, đúng là hai người
bảo vệ ấy đã “tia” cô, họ chạy ào tới. Hinh vòng qua lò đun nước, chạy đến khu
nhà tắm công cộng, hòa mình vào dòng người đông đúc đang ra đây để tắm. Hinh nhớ
rằng trong ví tiền còn một tích kê tắm, cô bèn đưa cho người gác cổng. Hai
nhân viên bảo vệ chạy vụt ngang qua cổng. Hinh thở phào bước ra khỏi nhà tắm.
Bỗng tiếng loa phát thanh trên cao vọng tới: “Các bạn sinh viên chú ý, văn phòng
học sinh và phòng bảo vệ phân viện lâm sàng cần sự giúp đỡ của các bạn: nữ sinh
Diệp Hinh đã mất tích. Diệp Hinh mắc bệnh nặng cần được điều trị kịp thời, nếu
các bạn các thầy cô nhìn thấy Diệp Hinh, xin hãy đưa bạn ấy về ngay văn phòng
học sinh. Lúc ra đi bạn Hinh mặc áo phông dài tay màu xanh nước biển, quần bò
trắng, người cao 1,63m cân nặng khoảng 50kg, để tóc dài...”. Tiếng phát thanh là
một giọng nữ lanh lảnh, chính là trưởng trạm phát thanh: một nữ sinh sắp tốt
nghiệp. Hinh ngao ngán quan sát xung quanh, các sinh viên đều nghiêm túc lắng
nghe, có vài ánh mắt đang do dự nhìn cô. Cô vội rảo bước, và không có ý thay
đổi kế hoạch. Phía trước là khu nhà trồng hoa ươm cây của trường, nhà trồng hoa
khóa cửa, cánh cổng tre của khu vườn ươm treo biển “không nhiệm vụ miễn vào”, và
cũng khóa, nhưng khe cửa khá rộng, cô có thể dễ dàng lách vào. Phía cuối vườn
ươm có một cửa nhỏ thông ra ngoài trường, ra khỏi đó là đường Y Uyển. Hinh
bước nhanh ra khỏi vườn ươm, nhân viên bảo vệ lại ở phía sau, còn có cả Chu Mẫn,
Trần Hy nữa! Con mắt của quần chúng thật tinh tường, cô hết chỗ ẩn náu. Cô
lại quay vào vườn ươm, chạy len lỏi qua những cây non. Khi từ Nghi Hưng trở về,
cô và Tạ Tốn đã cùng đi qua con đường nhỏ kín đáo này. Tôi đang một mình chạy
như điên. Tạ Tốn, anh đang ở đâu thế? Chu Mẫn ở phía sau gọi to: “Hinh ơi,
đừng chạy nữa, hãy về với bọn mình. Không ai ép cậu đi viện cả!” Đời nào Hinh
lại tin! Một giọng nam vang lên, chắc là của anh bảo vệ: “Diệp Hinh, bọn tôi
đã vào đây cả rồi, cô không thoát được đâu”. Hinh ngoái lại nhìn, đúng là mấy
người chỉ còn cách cô vài chục mét, dù mình chạy ra đường Y Uyển vắng tanh vắng
ngắt thì cũng vô ích. Chạy nhiều quá, chân Hinh run run, lòng cô lắng xuống, hy
vọng cũng mong manh yếu ớt như sức lực cô lúc này. Cánh cửa mở ra ngoài đường
đang ở ngay trước mặt, giơ tay ra là xong. Nhưng Hinh đã không còn can đảm để mở
nó. Ra để làm gì? Để tiếp tục chạy trên con đường bằng phẳng, hai anh bảo vệ
phía sau lực lưỡng đang ở phía sau sẽ chẳng tốn mấy hơi sức đuổi kịp ngay. Tội
gì phải chuốc lấy sự bẽ bàng như thế!? Tiếng bước chân nghe đã rất rõ Cô
bỗng nhớ lại hồi còn bé, mỗi khi cô sắp nhụt chí đầu hàng, mẹ cô thường bảo:
“Con là Diệp Hinh kia mà, con sẽ làm được!”. Hình như lúc này tiếng mẹ lại vang
bên tai cô: “Con là Diệp Hinh kia mà, con vẫn còn có hy vọng!”. Hy vọng, vĩnh
viễn là điều tốt đẹp, mãi mãi để con người ta theo đuổi. Hinh giật mạnh cánh
cửa, chạy ra khỏi vườn ươm. Đúng như cô dự đoán: con đường Y Uyển vắng tanh vắng
ngắt không một bóng người để cho cô ẩn nấp vào họ! Phía sau cánh cửa, hình như
có thể nghe thấy tiếng thở gấp gáp của những người đang đuổi theo cô. Có lẽ cô
không thể thoát khỏi cảnh bị cưỡng chế, lẽ nào kể từ nay cô phảo vào nằm viện
tâm thần - nó vốn không thuộc về cô. Làm ăn kiểu ấy, có công bằng với cô không?
Cô chạy hờ hờ mấy bước, cánh cửa phía sau đã bị mở toang. Lúc này cô nhớ đến mẹ
và người cha mới qua đời, nhớ đến Âu Dương Sảnh và cả Tạ Tốn. Tạ Tốn thật là tệ,
đúng lúc người ta vô vọng nhất thì anh lại ở đâu? Một hồi còi “pin, pin”
khiến cô giật mình. Mắt cô sáng lên: một chiếc tắc xi đỗ từ xa đang ra hiệu cho
cô. Quanh đây không có nhà dân, không có cửa hàng mua sắm, thế mà lại có tắc xi
trên con đường khuất nẻo này?! Chiếc tắc xi lao nhanh, rồi phanh gấp bên cạnh
Hinh, người lái xe hỏi: “Diệp Hinh có phải không?”. Hinh thấy không có lý do gì
để mình không tin ở những điều đang xảy ra trước mắt, giọng cô run run: “Tôi
đây”. “Lên xe đi”. Nhân viên bảo vệ đã chạy ra ngoài cửa, Hinh nhanh chóng
mở cửa xe lên luôn. Đúng lúc mấy người kia chạy tới thì chiếc xe vụt lao đi, chỉ
trong chớp mắt đã bỏ lại sau nó những người truy đuổi đang tức giận xen lẫn thất
vọng và thở dài. Hinh vẫn còn thở hổn hển, đã hỏi ngay anh lái xe “Anh đến
quá đúng lúc, chẳng khác gì cứu mạng cho tôi, sao lại khéo thế này?” Anh lái
xe ngạc nhiên hỏi “Khéo à? Không đâu, có người gọi điện cho công ty chúng tôi,
dặn là đến đây chờ đón một cô gái tên Diệp Hinh. Ở đây thật khó tìm, một con
đường khuất nẻo lại không có biển số nhà gì hết, nên tôi đến hơi muộn một chút.
Chẳng lẽ không phải là cô gọi xe à?” Hinh rất ngạc nhiên, nhưng cô rất nhanh
trí, cô sợ anh lái xe sẽ đỗ lại mất, bèn trả lời lấp liếm: “Đúng, đúng là tôi
gọi” Mình không gọi, vậy có thể là ai? Chỉ có Tạ Tốn mới biết con đường này,
Hinh thực sự hy vọng đúng là Tạ Tốn. Nhưng tại sao anh ấy lại không xuất
hiện? Nhưng dù Tốn có xuất hiện và có ngồi ngay hàng ghế sau thì Hinh cũng sẽ
quyết im hơi lặng tiếng, phớt lờ anh chàng. Và có lẽ Tốn sẽ nói: “Lúc nãy tôi
không dám ló mặt ra vì sợ Hinh vẫn còn giận tôi, thấy tôi trên xe Hinh sẽ không
chịu lên”. Sau đó anh áp sát mặt lại gần, ngắm nhìn Hinh và nói “Em gầy đi
rồi”. Nghĩ đến đây Hinh không chịu nổi nữa. Những nỗi sợ hãi, lo âu, nghi
hoặc, xen lẫn nhớ nhung, hờn giận đang trào dâng trong cô. Cô muốn xông vào đánh
Tốn một trận, rồi òa khóc, rồi mắng cho hả: “Mấy ngày hôm nay anh đã đi đâu? Sao
không đến tìm em? Sao bụng dạ anh hẹp hòi thế?”. Sau đó lại dịu dàng nói: “Anh
biết không, mấy hôm nay lúc nào em cũng nhớ đến anh!” Nhưng Tạ Tốn không hề
xuất hiện. Cô giữ nguyên thói quen trầm tĩnh của Diệp Hinh mọi ngày, lặng lẽ
ngồi đó, chỉ hiềm nước mắt cô “thật quá yếu đuối” cứ rơi lã chã. Anh lái xe
thấy tiếng thút thít bèn liếc nhìn, thấy cô đang khóc, anh có phần lúng túng:
“Sao thế? Đừng khóc nữa! Có phải bọn người vừa nãy uy hiếp gì cô không?”. Hinh
gật đầu, rồi lại lắc đầu. Anh lái xe rất lấy làm lạ. Anh thấy nghi ngờ vị hành
khách này, bèn nhắn vào máy bộ đàm: “Ban điều độ! Tôi số 2875, muốn hỏi người
vừa nãy gọi xe là nam hay là nữ?” “Hỏi để làm gì? Là nữ”. Ban điều độ ngán
ngẩm trả lời qua ống nghe. Là nữ? Vậy không phải Tạ Tốn gọi xe. Sao có thể
như vậy? Ngoài anh ta ra, còn có ai biết mình sẽ chạy ra cửa sau của khu vườn
ươm? Mà nếu đúng thế thì tại sao Tạ Tốn lại không đến? Có biết mình đang cần anh
ấy như thế nào không? “Cô định đi đâu?” Anh lái xe đã yên tâm, anh vốn chỉ
định hỏi câu này. Hinh ngớ ra giây lát, nhưng rồi nói luôn: “Ra ga tàu
hỏa” Tạ Tốn, anh đang ở đâu? Hinh không dám nghĩ thêm nữa. Cô vừa định ngẫm
nghĩ thêm nữa thì đầu lại thoang thoảng đau. Anh lái xe nhìn Hinh rồi nói: “Cô
không mang hành lý, đi ra ga để làm gì?” Hinh chợt hiểu ra, nghĩ bụng “hỏng
rồi”, mua vé tàu hỏa thì phải xuất trình chứng minh thư, chắc nhà trường đã gọi
điện cho nhà ga, họ đang chờ mình đến. Dù có mua được vé thì nhà trường cũng sẽ
cử người vào tận sân ga. Chỉ có vài chuyến tàu để đi về nhà, mình tránh mặt sao
được? Và, trong người cô chỉ có mấy mươi tệ, thì mua vé tàu sao được? Nghĩ đến
cảnh nhà trường đã bố trí thiên la địa võng để tìm cô về, cô thấy ớn lạnh, bèn
gọi to: “Anh ơi, phiền anh đỗ lại đã, tôi nghĩ lại rồi, tôi xuống đây
thôi!” Anh lái xe thầm nguyền rủa, đành miễn cưỡng ngừng xe bên đường. Hinh
lóng ngóng chui ra khỏi xe, vét nốt số tiền trong túi trả cho anh ta: “Anh khỏi
phải trả lại”. Rồi cô quay đi luôn. Anh lái xe chỉ còn biết lắc đầu, đếm lại
tiền rồi chầm chậm cho xe chạy. Máy bộ đàm bỗng vang lên giọng nghiêm nghị của
điều độ viên: “2875 chú ý, đại học Y số 2 Giang Kinh vừa gọi điện đến, trách
rằng anh đã chở một nữ sinh viên trốn học đi mất, nếu cô ta còn đang ở trên xe,
thì anh cứ tiếp tục lái không dừng lại, và đưa thẳng về cổng đại học Y số 2
Giang Kinh, sẽ có người đón nhận...” Anh lái xe kinh ngạc vội ngoái lại nhìn,
nhưng cô gái kia đã biến mất không thấy bóng dáng đâu. Hinh cũng đoán có lẽ
nhân viên bảo vệ đã ghi lại được số xe tắc xi, rồi gọi điện cho công ty để cùng
phối hợp. Nếu xuống chậm chút nữa thì chắc cô đã là con cua trong rọ rồi! Đi
đâu bây giờ? Hinh đưa ra một quyết định mà chính cô cũng không ngờ: về trường.
Chỗ này không cách xa trường là mấy, nếu cứ nhởn nhơ kiểu này, khó mà nói chắc
sẽ không bị chú ý. Nhà trường sẽ huy động lực lượng đi tìm cô, chưa biết chừng
sẽ “thông báo tìm người” trên đài truyền hình nữa. Mặt khác, rõ ràng họ đã nhìn
thấy mình trốn khỏi trường, thì sẽ không ngờ rằng mình có “gan cóc tía” để xuất
chiêu “mã hồi”. Cho nên trong phạm vi trường sẽ lơ là cảnh giác. Đây là một
chiến thuật đã quá nhàm: nơi nguy hiểm nhất lại chính là nơi an toàn nhất. Hinh
thậm chí còn nghĩ rằng: họ vẫn quên chưa khóa cánh cổng vườn ươm. Càng nghĩ
càng thấy kế hoạch của mình rất có tính khả thi, nhưng về trường, rồi sao
nữa? Trạm phát thanh. Hàng ngày trạm phát thanh ngừng hoạt động lúc 6 giờ
rưỡi, sau đó thường là không có ai ở đó. Căn phòng ấy rất chật rất bí, chỉ có
chị trạm trưởng và Diệp Hinh là có chìa khóa cửa... Hôm nay chị ấy còn thông báo
“truy nã” cô... thì chắc là không có ai ngờ rằng cô sẽ trốn vào đó.
Màn
đêm buông xuống thật đúng lúc, một trận mưa nhỏ cũng đến rất kịp thời làm dịu
bầu không khí mỗi lúc một thêm oi bức của mấy hôm nay. Mưa đã tạnh, mây cũng
tan, mặt trăng ló ra, nhưng không khí trong trường vẫn nằng nặng hơi nước mát
trong. Đúng như Hinh dự đoán, cánh cửa nhỏ của vườn ươm quay ra đường Y Uyển
vẫn chưa đóng. Cô bước trên nền đất ướt, xuyên qua khu vườn, vòng đến nhà ăn vẫn
mở cửa buổi tối, rồi vào khu nhà điều hành giảng dạy. Trạm phát thanh của trường
đặt ở khu văn phòng hành chính - một toà nhà nhỏ. Đó là một tòa nhà 3 tầng được
xây dựng vào những năm 50, nằm sát hơi chếch với khu nhà hành chính cũ. Từ khi
hầu hết các phòng ban hành chính đã chuyển đến khu nhà được quyên tặng mới xây
thì nó cũng trở nên lạnh lẽo vắng tanh như khu nhà hành chính cũ. Nghe nói nay
mai sẽ dùng nó làm nhà thực nghiệm động vật học. Tối đến, toà nhà hành chính nho
nhỏ này rất hiếm người qua lại. Lúc này Diệp Hinh có thể nghe rõ tiếng bước chân
mình. Nhưng cô vẫn thấy hồi hộp. Nếu Tạ Tốn có mặt ở đây thì tốt hơn nhiều, tiếc
rằng anh ta chỉ có trong trí tưởng tượng của mình mà thôi. Vẫn hay nói trạm
phát thanh đóng trên tầng 3 của tòa nhà này, nhưng đúng ra là nó chỉ nằm tại một
gian gác ở góc phía đông. Bắt đầu từ tầng hai, cầu thang ở phía đông của tòa nhà
bắt đầu xoáy đi lên, càng lên càng hẹp, qua tầng 3, nó tiếp tục đi lên gần đến
tận nóc thì thấy có một cửa nhỏ. Hinh lấy chìa khóa mở cửa, rồi bật đèn. Trạm
phát thanh chật chội một cách thảm hại. Hinh và cả nhóm phát thanh thường tự chế
nhạo rằng công tác của họ là “hành đạo trong vỏ ốc sên”. Cửa sổ kính duy nhất bị
một tấm ván bọc vải nhung bịt lại để cách âm. Tất cả đã trở thành điều kiện tối
ưu cho Diệp Hinh lánh nạn đêm nay. Cô có thể bật đèn mà bên ngoài không ai nhìn
thấy. Trốn ở đây cũng còn một cái lợi nữa. Hinh nhích cánh cửa sổ bằng gỗ lên,
hé ra một khe hẹp, từ đây có thể nhìn qua ô cửa kính thấy bóng một tòa nhà nhỏ ở
xa xa, đó là khu nhà giải phẫu. Lúc trưa gặp ông Phùng - ông già gù kỹ thuật
viên - hỏi ông về “ánh trăng”, rõ ràng ông ta biết, định nói nhưng lại nín lặng.
Sau đấy cô gạn hỏi thì ông ta có phần hơi nao núng. Hay là đêm nay mính sẽ nhân
đà này lại tìm đến hỏi tiếp? Chưa biết chừng ông ấy sẽ cho biết vài điều bí mật
cũng nên. Nhưng ông Phùng đã nhắc lại rằng cô không được đến tìm ông sau lúc nửa
đêm, cô cũng chưa rõ ngày mai mình sẽ phải trôi dạt phương nào, chỉ e không thể
đợi được nữa. Khi vừa nhích tấm cửa gỗ lên thì tiếng mưa rơi rào rào vọng
vào. Lại mưa rồi. Mỗi khi gặp trời mưa, Hinh chỉ toàn muốn ngồi nhà để tận hưởng
cảm giác an toàn dễ chịu. Nếu là đang ở ký túc xá thì cô sẽ ngồi thu lu trên
giường để đọc sách hoặc nghe nhạc. Nhưng lúc này ngồi trong trạm phát thanh chật
chội, xung quanh là những thiết bị phát thanh vô cảm, rơi vào một “kỳ án” mơ hồ
mà cô là người bị hại, số phận chưa biết sẽ ra sao... thì hoàn toàn trái ngược
với cảm giác đầm ấm mà cô vẫn mong hướng tới. Cô bất giác khẽ thở dài. Nếu anh
chàng tệ hại Tạ Tốn đang ngồi đây, thì mình sẽ cho anh ta được nghe “phát
thanh” Hinh bỗng thấy lòng nao nao. “Đúng là đã nhiều ngày qua mình đã không
đến để phát thanh!”. Hinh đến trước bàn làm việc, cô bật cười: trên bàn là một
bản thảo phát thanh có nội dung “tìm người” mà chị trưởng trạm phát thanh đã đọc
chiều nay. Hinh bật máy chỉnh âm, sửa soạn đâu ra đấy, rồi bật bộ ê-qua-li-dơ,
trước mặt là một màn hình nho nhỏ, mỗi lần bắt đầu phát thanh nó thường hiện lên
các đường sóng nhấp nhô định vị bước sóng và tần số âm. Hinh đeo tai nghe, dò
tìm thông tin “tìm người” về cô. Cô chợt nảy ra ý định tinh nghịch: sau khi xác
định rõ âm thanh sẽ không bị truyền ra loa bên ngoài, cô bật nút ghi âm, mỉm
cười và đọc: “Có một nữ sinh tên là Diệp Hinh đã mất tích...” Mới chỉ đọc
xong câu này, nụ cười trên khuôn mặt cô bỗng tắt ngấm, đôi mắt cô dần mở to, hơi
thở mỗi lúc một gấp. |
|
|
|
 |
dyelvn
Điều hành
Gia nhập: 19 Dec 2009
Trạng thái: Offline
Bài viết: 695
|
Tùy chọn bài viết
Trích dẫn Trả lời
Đăng: 11 Mar 2010 vào lúc 10:58am |
Chương 14 Nguồn cơn của nỗi khiếp sợ
|
Những tiếng rít chói
tai phát ra từ hai ống nghe, nó dội vào màng nhĩ của cô một cách nhịp nhàng,
tiết tấu của nó giống như tiếng bước chân, lại giống như tiếng tim đập, mỗi lần
vang lên lại khiến Hinh rùng mình sởn gáy. Cô ngẩng đầu lên, toàn thân run run:
trên màn hình âm tần của bộ ê-qua-li-dơ xuất hiện một cụm sóng âm đang chạy
ngang rất nhịp nhàng. Chỉ âm thanh mới có thể hiển thị trên màn hình của bộ
ê-qua-li-dơ, nhưng lúc này cô gần như nín thở, thì âm thanh ở đâu ra? Bốn bề im
phăng phắc, tấm cửa gỗ đã chặn hết tiếng mưa rơi bên ngoài, thì sóng âm ở đâu
ra? Hinh thận trọng cắm giắc vào bộ loa, các tiếng ồn kiểu tạp âm tĩnh điện
lập tức truyền ra, có điều nó không như các tạp âm sóng âm thông thường mà là
rất có nhịp điệu. Nhịp điệu này chậm hơn nhịp tim đập, nhanh hơn nhịp thở. Hinh
bỗng bước đi bước lại trong căn phòng, mỗi bước hòa cùng một tiếng động. Âm
thanh này rất giống như nhịp bước chân chậm chạp. Nhưng rõ ràng là tai cô
không nghe thấy một tiếng bước chân nào. Cô bước trùng với nhịp âm thanh đi
ra đến cửa, mạnh tay giật cửa ra. Nhưng bên ngoài không hề có tiếng động nào, cả
toà nhà im ắng đến ngạt thở. Cô nhìn xuống phía cầu thang xoáy trôn ốc, dưới ánh
đèn sáng mờ, không tháy có gì cả. Cô thoáng cảm thấy nhẹ nhõm. Nhưng trước mặt
cô bỗng tối om, đèn ở hành lang phía dưới tắt ngấm. Hinh thấy toàn thân mình
cứng đơ, ngoảnh đầu lại nhìn máy ê-qua-li-dơ thấy các đỉnh sóng âm trên màn hình
mỗi lúc một cao hơn, cường độ âm thanh kỳ quái phát ra qua amply mỗi lúc một
lớn, hình như đúng là tiếng bước chân mỗi lúc một gần. Sao mình vẫn còn đứng
nghệt ra đây? Hinh thầm nguyền rủa mình. Cô vội đóng chặt cửa, gài chốt, áp lưng
vào cửa, nhè nhẹ thở, như là để giữ khoảng cách với mối nguy hiểm. Sau khi đã
đóng cửa, thì âm thanh kỳ quái phát ra qua bộ loa lắng xuống, nhưng rồi lại dần
mạnh lên. Hinh nghĩ ngợi: “Lẽ nào thực sự có cái gì đó khác thường sắp xuất
hiện? Hay là ma sắp hiện ra?... Ôi, Tạ Tốn anh đang ở đâu?”. Mà cho dù là có ma
thật thì việc gì phải sợ chứ? Trong nhà này có đèn, có ánh sáng, chỉ cần có đèn
thì... Vừa nghĩ đến đây thì đèn vụt tắt. Hinh kinh hãi trước những biến cố bất
ngờ này. Trong bóng tối cô đứng ngây ra như tượng, rồi run lên bần bật không sao
kìm nén nổi. Cô tưởng tượng Tạ Tốn đang nói bên tai cô: “Em đừng sợ”. Thiếu chút
nữa thì Hinh òa khóc. Âm thanh kỳ quái vẫn chậm rãi vang lên, trên màn hình
của máy ê-qua-li-dơ các làn sóng điện vẫn dập dờn nhấp nháy, đỉnh sóng âm mỗi
lúc một cao hơn. Liệu có cách giải thích hợp lý nào chăng? Tủ điện nguồn
dành cho trạm phát thanh đặt ở tường hành lang tầng 3, các thiết bị ở đây đang
chạy bình thường, chỉ đèn điện là bị tắt. Hay là có ai đang quậy phá? Một cậu
sinh viên nghịch ngợm nào đó đang chọc ngoáy vào nguồn điện, sự bất thường của
dòng điện và từ trường cũng có thể khiến máy ê-qua-li-dơ nhận phải tín
hiệu... Âm thanh quái lạ vẫn mỗi lúc một mạnh lên. Hinh lần đến nơi, nhổ giắc
nối ra, nhưng âm thanh vẫn cứ phát ra như cũ. Sao những điều này có vẻ quen
quen? Hinh chợt nhớ đến cuốn nhật ký đã ghi chép về “Nguyệt Quang xã”, anh sinh
viên họ Tiêu lần đầu tiếp xúc với đám ma quỷ “Nguyệt Quang xã”, tuy đã ngắt
nguồn điện nhưng máy quay đĩa vẫn chạy... Bỗng nhiên tất cả im tiếng. Bộ loa
trở lại là một chiếc thùng gỗ chưa đấu nối gì cả, sóng điện trên màn hình của
máy ê-qua-li-dơ biến mất, chỉ còn một màu huỳnh quang. Trong bóng tối chỉ có thể
nghe thấy tiếng trái tim cô đập. Mưa gió đã đi qua, hay là một cơn bão tố còn
lớn hơn sắp ập đến? Sự im ắng kéo dài chừng mười giây, rồi bộ loa bỗng lại
vang lên những tạp âm inh tai nhức óc, rít lên điên cuồng như muốn xé nát lòng
người. Những sóng âm có quy luật trên màn hình của máy ê-qua-li-dơ lúc nãy bị
thay thế bởi những hình sin quái gở nhấp nhô lên xuống, như một họa sĩ điên rồ
đang cầm cây cọ hành hạ tấm vải. Hinh bỗng thấy nhức đầu như búa bổ, những
tạp âm dữ dội như điện truyền sâu vào trong óc cô, trong khoảnh khắc cô đã mất
tri giác. Khi tỉnh lại, Hinh thấy các tạp âm đã biến mất và màn hình cũng hết
các tín hiệu rối loạn. Xung quanh Hinh hoàn toàn im lặng. Nhưng rồi lại
thấy văng vẳng một loạt âm thanh “lạo xạo” rất khẽ. Hinh chợt nhớ ra rằng lúc
nãy cô quá lúng túng nên đã quên tắt máy ghi âm, các âm thanh hỗn loạn trong
phòng vừa nãy chắc chắn đã được ghi lại. Cô chợt nảy ra một ý, cô bước lại trước
bàn làm việc nói vào máy ghi âm: “Tôi là Diệp Hinh, lúc này là khoảng 22 giờ
ngày 11 tháng 5. Cách đây ít phút, có những luồng sóng điện kỳ lạ hiện trên màn
hình máy ê-qua-li-dơ, và các âm thanh phát ra loa, thoạt đầu có quy luật, và mỗi
lúc một vang hơn. Sau đó đèn ở trạm phát thanh bị tắt thì sóng điện lại trở nên
không có quy luật gì nữa, và rất chói tai. Bây giờ đã rất yên tĩnh, nhưng
tôi.... tôi rất sợ, thật sự rất sợ hãi”. Hinh đã thổ lộ nỗi lòng, cô thấy nhẹ
nhõm phần nào nhưng nỗi khiếp hãi thì vẫn không hề vợi đi. “Xẹt, xẹt...”
khiến Hinh phát hoảng, âm thanh quái dị kia lại truyền ra loa, thoạt đầu rất khẽ
rồi mạnh dần. “Mình nhất định phải làm một việc gì đó”. Ý nghĩ đầu tiên nảy ra
là đập nát bộ loa, nhưng cô hiểu rằng làm thế sẽ chẳng ích lợi gì, nên tìm cách
khác có tính tích cực hơn. Trong phòng này có mắc điện thoại nội bộ, có thể
gọi đến phòng bảo vệ, nhưng như thế khác nào tự chui đầu vào thòng lọng? Bị đi
nằm viện tâm thần thì đỡ kinh hãi hơn lúc này ở đây sao? Một ý nghĩ chợt đến,
Hinh dò dẫm trong bóng tối đi đến cửa sổ, mở cánh cửa gỗ, nhìn về phía xa xa,
thấy tầng 2 của tòa nhà nhỏ còn sáng đèn le lói. Cô xác định có lẽ chỗ đó là
phòng làm việc của thầy Chương Vân Côn ở khu nhà giải phẫu. Hinh thầm kêu lên
“tạ ơn trời đất”. Lần mò sờ soạng một lúc, cô tìm thấy vài cuốn sổ tay, cầm đến
trước màn hình huỳnh quang máy ê-qua-li-dơ để xem, cô tìm cuốn “danh bạ điện
thoại nhà trường”. Cô lần giở thật nhanh, miệng lẩm bẩm “Phòng nghiên cứu giảng
dạy giải phẫu”... Cuối cùng Hinh đã tìm ra số điện thoại của phòng ấy. Tay run
run bấm số điện thoại, tiếng chuông đang reo, một hồi, hai hồi... Hinh thầm cầu
xin “mau đến nhấc máy, mau nhấc máy đi...” Nhưng không thấy gì. Khi cô dường như
đã hết hy vọng thì tiếng chuông đã ngắt, có người nhấc máy và hỏi
“alô?” Chính là tiếng thầy Côn. “Chào thầy Côn, em là Diệp Hinh ạ!”. Hinh
suýt nữa trào nước mắt, giọng cô run run. “Diệp Hinh, bạn đang ở đâu? Sao
nghe giọng bạn lạ thế? Từ chiều tới giờ cả trường đang đi tìm bạn”. Rõ ràng là
thầy Côn rất ngạc nhiên. “Em sợ..”. Hinh chẳng biết nên miêu tả cảnh ngộ của
mình như thế nào, cô chỉ buột miệng nói ra được hai chữ. Lúc này cô nhận ra rằng
cô chẳng cứng cỏi như cô vẫn tưởng. “Đừng sợ, bạn đang ở đâu? Tôi sẽ đến đón
bạn” “Em đang ở trạm phát thanh, trên nóc khu nhà hành chính cũ. Xin thầy hãy
mau đến đây nhưng thầy đừng nói với ai, được không ạ? Họ đang định đưa em đi
viện tâm thần!” “Bạn đã tin cậy tôi như thế, tôi sẽ rất thận trọng. Trước hết
sẽ thu xếp ổn thỏa cho bạn đã, rồi sẽ tính sau”. “Thầy Côn hãy cẩn thận, ở
khu nhà này có thể có nguy hiểm”. Tiếc rằng Vân Côn đã dập máy. Hinh ôm hai
vai ngồi thu mình trên sàn nhà, ngẩng đầu lên nhìn màn hình của máy ê-qua-li-dơ;
các đỉnh sóng âm vẫn dần dâng lên cao, các âm thanh quái dị phát ra loa lại dần
mạnh hơn. Tay chân Hinh run bắn không thể kiểm soát được nữa. Với Hinh, mỗi
giây trong cảnh này dài tựa một năm. Tiếng động quái dị mỗi lúc một đến gần,
càng nghe càng thấy giống những bước chân đất đang dần áp tới. Cuối cùng, bộ
loa như bị dùng hết công suất, phát ra một tiếng nổ dữ dội. Hinh vội bịt chặt
hai tai, nghĩ bụng: mỗi nguy đã áp sát cửa. Quả nhiên cửa phòng bị đập mạnh,
cả nền nhà bị rung lên theo. Tiếng đập cửa quá dữ dội, có lẽ sớm muộn gì họ sẽ
phá tung cửa để vào. Chắc vì đã bị khiếp sợ quá lâu, nên Hinh bỗng trở nên can
đảm. Cô từ từ đứng dậy, hít một hơi thật sâu, tay nắm vào chiếc ghế đặt trước
bàn kê máy chỉnh âm, để chuẩn bị - nếu cửa bị mở tung thì cô sẽ ném chiếc ghế
ra. Cửa vẫn bị đập ầm ầm không ngớt, rõ ràng là họ muốn vào bằng
được. “Diệp Hinh, tôi là Chương Vân Côn đây!” Hinh thấy người cô nhũn ra
như muốn ngã vật xuống đất. Vậy là vẫn có hy vọng. Hinh run rẩy bước ra mở
cửa, ngoài cửa tối om, thầy Côn tay cầm chiếc đèn pin to. Hinh vội nói ngay:
“Thầy Côn vào ngay đi, đứng ngoài nguy hiểm đấy!” “Nguy hiểm gì? Sao tôi
không thấy có chuyện gì cả?” Thầy Côn lia đèn pin khắp bốn phía. Ơ kìa, bộ
loa đã im tiếng. Hinh kinh ngạc quay đầu lại, cũng không thấy các sóng âm nhấp
nhô trên màn hình hiển thị nữa. Hay là “kẻ khác người” ở đây đã hoảng sợ nên bỏ
chạy rồi? Có lẽ nên ghi công cho ánh đèn pin, hoặc công ấy thuộc về thầy Côn
hùng dũng tiến vào. “Chúng ta nên mau đi khỏi đây”. Thầy Côn cũng thấy chẳng
nên nán lại lâu ở cái nơi tối đen như mực này. “Vâng, nhưng xin phiền thầy
cùng đi với em tới khu nhà giải phẫu”. Vân Côn ngần ngừ: “Bạn nói là... về
phòng làm việc của tôi?... cũng được!” Tại sao thầy Côn ngần ngại? Hinh có
thể hiểu được: đêm hôm khuya khoắt, một thầy giáo trẻ ngồi cùng một nữ sinh
trong phòng, là điều nên tránh. Huống chi mình lại đang là một “phạm nhân bị
truy nã”. Hinh nhẹ nhàng nói: “Không phải là đến phòng của thầy, mà là xin
thầy đi cùng em đến tầng một của nhà giải phẫu”. “Sao phải thế?” Giọng thầy
Côn đầy vẻ ngạc nhiên. “Bác Phùng kỹ thuật viên mặc dù thường làm việc ở đó,
em muốn đến chơi, chưa biết chừng sẽ gặp được, em muốn hỏi bác ấy về một việc
quan trọng. Gặp rồi, em sẽ nghỉ qua đêm ở một gian lớp học chứ không dám để thầy
bị liên lụy. Em chỉ mong thầy đừng thông báo với phòng bảo vệ và phòng quản lý
sinh viên, kẻo họ đưa em đi viện tâm thần”. Vân Côn hơi ngập ngừng, có vẻ do
dự, nhưng rồi vẫn nói: “Tôi sẽ không nói với ai cả! Nào, ta đi!”
Hai
người ra khỏi tòa nhà hành chính cũ, che chung một cái ô vì trời vẫn mưa. Có lẽ
do trời mưa nên suốt quãng đường đi, không hề gặp một ai. Bước qua bệ cửa xi
măng xây cao, họ mở cửa. Phía trong là hành lang tối om, cố nhìn kỹ cũng không
thấy một tia sáng nào. Vân Côn nói: “Có lẽ chúng ta đừng vào nữa, rõ ràng là bác
Phùng không có ở đây!” Vừa dứt lời thì thấy đèn hành lang bật sáng! Nhưng
hành lang vẫn không một bóng người. “Có ai ở đây không? Có ai không đấy?” Vân
Côn gọi to, chính anh cũng thấy đúng là có điều bất thường. Nhưng Hinh thì
dần dần hiểu ra rằng mối nguy hiểm vẫn bám theo cô. Cô không muốn làm liên
lụy đến Vân Côn. “Thầy Côn ạ, chúng ta đi vậy, ở đây có uẩn khúc gì đó, rõ
ràng là bác Phùng không có ở trong kia!” “Có người đang làm trò ma hay sao?
Ai đấy, hãy đường hoàng bước ra đây xem nào!” Vân Côn lớn tiếng gọi. “Bác
Phùng đang ở trong, đó là tiếng cưa điện của bác ấy”. Hinh bước vào hành lang,
chạy ngay đến gian cuối cùng. Vân Côn vội gọi theo: “Bạn Hinh chờ đã, cẩn thận
đấy!” Có lẽ đế giầy bị ướt, Vân Côn trượt ngã nên bị rớt lại phía sau. Hinh như
không nghe thấy gì, loáng một cái cô đã đứng ngay trước cửa căn phòng. Cửa
đang khép, tiếng cưa điện vang lên, đúng là từ trong đó phát ra. Cô định đẩy
cửa, tay đưa ra nhưng lại dừng tay hờ hờ ở đó. Cô lờ mờ cảm thấy có điều gì kỳ
cục chi đây: không thấy ánh sáng lách qua khe cửa, tất nhiên là vì ông già gù có
thói quen không bật đèn trong lúc xử lý thi thể, nhưng đêm mưa không thấy trăng
sao, thì ông ấy làm việc sao được? Sau phút do dự, Hinh vẫn đẩy cửa. Cửa
đã mở, cô ngây người như pho tượng. Cô không biết có nên tin ở mắt mình nữa
không, bộ não thông minh của cô không thể chịu đựng nổi cảnh tượng kỳ quái đáng
sợ đang diễn ra trước mắt. Nhờ ánh đèn yếu ớt từ hành lang hắt vào, cô nhìn
thấy chiếc cưa điện đang vận hành dữ dội trên cái bàn đặt thi thể. Cô hình rõ
ràng không có ai cầm cưa, chiếc cưa điện như bỗng có sức sống, nó tự xử lý thi
thể trên bàn. Cô nhìn rõ, đúng là trên bàn có thi thể, và nó đã bị xẻ ra vài
đoạn. Cô cũng nhìn rõ thi thể ấy có cái đầu hói, lưng gù. Chính là bác
Phùng! Đôi mắt bác Phùng vẫn mở to, hình như đang nhìn Hinh, ánh mắt lộ vẻ
nài nỉ, tuyệt vọng, và cảnh cáo nữa. Bao khiếp sợ, áp lực, hẫng hụt và mệt
mỏi trong cô ít hôm nay, lúc này đã tích tụ đến ngưỡng không thể vượt qua được
nữa. Hinh thét lên một tiếng rất dài, tiếng thét phá tan sự tĩnh mịch của đêm
mưa trong khu trường. Vân Côn chạy đến nơi, thấy Hinh ngồi rũ trên sàn, toàn
thân run rẩy dữ dội, vẫn đang kêu thét lên kinh hãi. Anh cúi xuống ôm lấy cô, ôn
tồn nói: “Bạn Diệp Hinh hãy bình tĩnh nào! Cứ kêu thế này sẽ ảnh hưởng đến các
cán bộ giáo viên quanh đây”. Tuy đã gần đến mức suy sụp hoàn toàn nhưng Hinh
vẫn nhớ ra rằng “kêu thét thế này, mình sẽ bị lộ, khác nào gọi nhân viên bảo vệ
chạy đến?” Cô lập tức nín lặng, ngừng cả tiếng khóc, đứng lên rồi chạy ra
ngoài. Vân Côn đứng sau gọi ngay: “Diệp Hinh, bạn định đi đâu?” Hinh đứng
lại, nghĩ bụng: phải rồi, mình nên đi đâu đây? Đầu cô bỗng như mơ hồ trống
vắng, khuôn mặt đẫm lệ ngoái lại nhìn Vân Côn bằng ánh mắt buồn bã và bất lực.
Vân Côn tiến lại dịu dàng nói: “Thế này vậy, đêm này dù bạn đi đâu, tôi cũng đi
với bạn”. Đang nói chuyện, bỗng nghe thấy những tiếng bước chân vội vã, hình
như có nhiều người đang chạy đến. Hinh thầm nghĩ “gay rồi”, cô hiểu rằng mình
không còn thì giờ nữa, không kịp giải thích với Vân Côn nửa lời, cô vụt chạy ra
khỏi khu nhà. Vừa bước chân ra cửa, thấy một ánh đèn pin cực mạnh chiếu thẳng
vào cô, khiến cô không dám mở mắt ra nhìn, theo phản xạ, cô đưa tay lên che mặt.
Có tiếng gọi: “Diệp Hinh ở đây! Tìm thấy rồi!” Hinh biết chắc đó là các nhân
viên được nhà trường cử đi tìm mình, không nghĩ gì khác, cô vụt chạy về hướng
không có người. Cô cũng biết nếu cứ chạy trên đường trong trường, thì đèn pin
đặc chủng kia sẽ bám sát, họ sẽ dễ dàng đuổi kịp cô. Phải nhanh chóng bỏ rơi họ
mới được! Chênh chếch với nhà giải phẫu là khu nhà hành chính cũ, cô nhớ rằng
lối đi trong đó rất quanh co, có lẽ có thể trốn vào đó, cô bèn chạy thẳng vào
khu nhà ấy. Cô lên cầu thang rồi chạy lên tầng hai, nghe thấy phía dưới kia
rất ồn ào, có người hô lên “cửa phía đông đã có người gác, hai anh hãy lục soát
từng gian ở tầng một và tầng hầm. Mọi người còn lại hãy theo tôi lên gác!” Đó là
tiếng ông Vu Tự Dũng phó phòng bảo vệ. Đôi chân của Hinh đang run: liệu mình
còn có thể trốn được bao lâu nữa đây? Nhưng cô không chịu “đầu hàng”, không
thể để họ dễ dàng đưa mình đi viện tâm thần như thế. Mỗi bước ba bậc cầu
thang, Hinh tiếp tục chạy lên trên. Tòa nhà hành chính cũ này có 5 tầng, cầu
thang đưa thẳng lên nóc, sân thượng luôn thông thoáng, còn kê vài chiếc ghế
xi-măng để mọi người ngồi nghỉ. Các bước chân vẫn đang đuổi sát phía sau, không
còn cách nào khác, cô đành chạy một mạch lên sân thượng. Mưa phùn táp lên mặt
nhưng Hinh hoàn toàn không có cảm giác gì. Hinh chạy một đoạn trên sân
thượng, bỗng thấy ánh đèn pin lóe sáng trước mặt, thì ra đã có người lên đây
theo một lối cầu thang khác. Thế là cô bị chặn cả hai phía trước sau. “Này
bạn Diệp Hinh chớ chạy nữa! Lẽ nào bạn không hiểu thiện chí của nhà trường dành
cho bạn hay sao?” Ôi, nếu mình chỉ là một con chim, thì mình có thể tự do bay
đi! Ý nghĩ này nảy sinh khiến Hinh cảm thấy mình đã thay đổi thật là đáng
sợ. Những người đuổi theo cô đều bước chậm lại, dàn từ hai phía thành một
vòng cung vây lấy cô. Không sao gạt bỏ được cái ý nghĩ đáng sợ kia, nhưng
dường như cô không còn sức để khôi phục lý trí của mình cho tỉnh táo hơn. Thế
là Hinh trèo lên thành tường vây sân thượng, cao chưa đầy một mét. Vu Tự Dũng
gật mình “gay rồi!” Ông vẫy tay: “Dừng lại, mọi người dừng lại! Bạn Diệp Hinh
định làm gì thế?” “Làm gì à? Chẳng nhẽ ông không nhận ra hay sao?” Giọng Diệp
Hinh lạnh như những giọt mưa đang hắt vào mặt. “Em đừng làm bừa! Chúng tôi
đến để giúp đỡ em, cứ yên tâm, nhà trường không hề hiểu lầm em. Sẽ quan tâm đến
em nhiều hơn. Em mau xuống đi! Em còn chưa ăn tối kia mà? Chắc cũng rất mệt rồi!
Nhà trường đã thu xếp cho em đến nhà khách, để em ăn uống tắm gội, rồi đi ngủ.
Thế lại không tốt à?” “Tiếp đó là, ngày mai đưa tôi đi bệnh viện tâm thần,
đúng không?” Ông Dũng không biết nên nói thế nào nữa, nhưng may có thầy Lý
chủ nhiệm lớp Diệp Hinh kịp đi đến, nói: “Em Hinh xưa nay là một sinh viên rất
hiểu biết, sao lại... Em mau xuống đây, cần gì thì nói xem nào!” “Chẳng có gì
để nói cả! Em biết thầy Lý không thể quyết định xem nên là thế nào, nhưng em
mong thầy yêu cầu nhà trường bảo đảm rằng không đưa em đi viện tâm thần, thì em
sẽ xuống ngay!” Thầy Lý hơi đắn đo, ông Dũng thì cười nhạt, cất cao giọng:
“Cho dù thầy Lý không thể quyết định, thì tôi có thể bảo đảm với em: chắc chắn
sẽ không đưa em đi viện tâm thần! Bây giờ em xuống đi nào!” “Tôi muốn nhà
trường phải có văn bản chính thức, tuyên bố rằng bảo đảm ấy có giá trị trước
pháp luật, có đóng dấu của Phòng quản lý sinh viên, thì tôi mới xuống!” Ông
Dũng không ngờ Diệp Hinh “khó nhằn” như thế này, ông phát cáu: “Này, sao em lại
trẻ con như vậy? Em sẽ làm bừa chắc?” “Có phải ông cho rằng tôi không dám
nhảy không? Tôi biết trong số nữ sinh trước kia từng ở phòng của chúng tôi, đã
có 12 cô nhảy lầu tự tử, ông cũng đã nói với tôi còn có vài cô khác nữa, tổng
cộng là bao nhiêu?” Có lẽ, nhảy xuống dưới kia là cách duy nhất để giải tỏa mọi
buồn phiền. “Em...” Ông Dũng thực sự thấy điên tiết. “Hinh ơi!” Một giọng
nói rất quen thuộc vọng đến. Chính là mẹ cô! Bà Kiều Doanh được ông Kim Duy
Chúc trưởng phòng quản lý sinh viên đưa tới, đang chằm chằm bước đến. Bà quá
kinh ngạc trước cảnh tượng trước mắt, bà đưa tay bịt lấy miệng, chỉ chực òa
khóc, bà gọi “Hinh ơi” rồi đứng đờ ra không biết nên nói gì nữa. “Em Hinh
nhìn xem ai đây nào?” Ông Chúc lấy làm may vì mình đã sớm nhắc thầy Lý báo tin
cho bà Kiều Doanh, bà đã ngồi chuyến bay trưa nay để đến Giang Kinh. “Em thấy
rồi!” Hinh nói lạnh lùng: “Mẹ ơi, sao mẹ cũng đến để ép buộc con?” Sau phút
bất ngờ nhìn thấy con, bà Kiều Doanh trấn tĩnh lại và dịu dàng nói: “Kìa con! Mẹ
đâu có ép buộc gì con? Mẹ đến để thăm con, mẹ vẫn chưa đồng ý để đưa con đi
viện! Mẹ chỉ... mẹ chỉ không muốn mất con, con là... là người thân yêu nhất trên
đời này của mẹ!” Nói xong câu cuối cùng, bà nghẹn ngào. Câu nói cuối cùng đã
thực sự cảm hóa được Diệp Hinh, cô trào nước mắt, bước xuống sân thượng, tiến về
phía trước và nhào vào lòng mẹ, cô khóc nức nở. |
|
|
|
 |
dyelvn
Điều hành
Gia nhập: 19 Dec 2009
Trạng thái: Offline
Bài viết: 695
|
Tùy chọn bài viết
Trích dẫn Trả lời
Đăng: 11 Mar 2010 vào lúc 10:58am |
Chương 15 Người đàn bà mặt sẹo và Uông Lan
San
|
“Thành thật mà nói, tôi
cho rằng thu xếp đưa Diệp Hinh đi viện tâm thần là một quyết định sai lầm”. Ông
Từ Hải Đình nhíu mày, nhìn chăm chú trang lịch in ở đầu cuốn sổ công tác, ông
không nhớ mình đã khoanh một vòng tròn đỏ vào ngày 16/6 từ bao giờ. Từ khi vị
chủ nhiệm khoa thu xếp chương trình để về hưu thì các cuộc họp khoa đều do ông
Đình và ông Đằng Lương Tuấn thay nhau chủ trì. Ông Tuấn chăm chú nhìn ông Đình.
Chính ông Tuấn đã quyết ý chủ trương đưa Diệp Hinh đi viện, lúc này trước mặt
các bác sĩ trẻ chưa có thâm niên, ông Đình lại nói mình “quyết định sai lầm” là
có ý gì vậy? Hai ông đang tranh đua chức vụ chủ nhiệm, chỉ mai kia sẽ công bố bổ
nhiệm ai làm. Nghe tin cấp trên tiết lộ, nói mình “hơi có ưu thế” thì ông Đình
ra đòn này không phải là không có ý đồ. “Trong những năm qua, bác sĩ Đình đã
đưa các sinh viên tương tự đi viện, chắc anh đã cân nhắc kỹ mọi bề, thậm chí rất
đau xót nhức nhối phải không?”. Ông Tuấn từng sang Mỹ tu nghiệp 2 năm, ông rất
hiểu sự tàn khốc trong cạnh tranh, nếu cứ nhân từ với Tương Công (Sự tích Tề
Tương Công thời Đông Chu là một vua chư hầu hoang dâm tàn bạo. Nếu nương tay với
y thì chỉ là tự chuốc lấy kết cục bi thảm) thì khác nào tự sát, vì thế ông trả
đũa luôn. Ông Đình biết ông Từ hỏi câu đó là có ý công kích mình, ông thấy
hơi buồn, nhưng ông cố kiềm chế rồi chậm rãi nói: “Tình hình của Diệp Hinh không
giống như các nữ sinh kia. Trước khi đi viện các cô kia học tập sút kém, hiện
tượng nói năng lú lẫn rất rõ rệt, hoặc là lúc tỉnh lúc không. Còn Diệp Hinh thì
kết quả học tập không những không giảm sút mà còn đạt mức ưu tú, môn giải phẫu
được điểm tối đa, việc này chỉ mới cách đây vài tuần”. “Nhưng chuyện cô luôn
miệng nói là đã gặp linh hồn cha mình thì cũng là biểu hiện tỉnh táo hay sao? Cô
ta còn nói đã nhìn thấy ông kỹ thuật viên của phòng nghiên cứu giảng dạy bị xả
thây, nhưng rõ ràng là ông ta vẫn còn sống, chỉ là xuất huyết não phải nằm viện
để theo dõi mà thôi. Điều này cũng là biểu hiện tỉnh táo ư?”. Ông Tuấn chỉ tay
về phía buồng bệnh: “và còn hàng loạt lời nói cử chỉ không sao hiểu nổi nữa đều
được ghi trong y bạ. Nếu tôi không nhầm thì chính anh và tôi đã cùng khám bệnh
và cùng ghi vào y bạ đó kia mà!” Các bác sĩ đưa mắt nhìn nhau, họ đều đã nghe
nói trường hợp bệnh nhân Diệp Hinh là không bình thường, nhưng không ngờ lại là
một ca mà hai vị phó chủ nhiệm này cũng khám bệnh. “Anh nói đều đúng cả,
nhưng vẫn cần phải phân tích kỹ hơn. Ta biết rằng cô Hinh đã phải chịu đựng áp
lực rất lớn về tinh thần, khi con người bị căng thẳng quá mức họ sẽ nói ra những
điều ẩn sâu trong tiềm thức, nhưng đó không có nghĩa là bệnh lý nghiêm trọng đến
mức phải đi viện điều trị. Tôi cho rằng cô ấy chưa thật sự tin cậy tôi, anh và
nhà trường nên còn nhiều điều chưa nói ra với chúng ta, vì cho rằng dù có nói ra
thì chúng ta cũng không tin. Chúng ta đừng quên rằng chuyến đi Vô Tích của cô
Hinh đã liên quan đến một vụ án mạng, chứ không phải là chuyện ngẫu nhiên. Chắc
chắn cô Hinh đã cảm nhận được một điều gì đó nên mới có động cơ mãnh liệt để đi
tìm lời giải cho “vụ mưu sát 405”. Điều tôi muốn nói là không phải cô ta không
hề muốn được chúng ta quan tâm. Chúng ta nên coi việc trợ giúp tâm lý là chính,
chứ đừng vội vã điều trị thuốc men”. Ông Đình đang suy nghĩ rất sâu về trường
hợp Diệp Hinh. “Nếu cho nằm viện thì chẳng phải sẽ càng tiện, và càng có thể
trợ giúp tâm lý tỷ mỷ hơn cho cô Hinh hay sao? Nếu anh Đình nhất định bảo lưu ý
kiến không cần cho nằm viện thì chi bằng cứ giao ca này cho mình tôi phụ trách
điều trị”. Ông Tuấn vẫn cảm thấy ông Đình đang cố cãi lấy được, nên ông lên
tiếng mạnh hơn. Ông Đình cười nhạt “Bác sĩ Tuấn thật sự nghĩ rằng đưa một cô
gái có lẽ vẫn đang khỏe mạnh về tinh thần vào nằm viện của chúng ta, sẽ rất hữu
ích cho việc trợ giúp tâm lý hay sao?”
Bệnh viện tâm thần nằm ở vùng ven
“khu bệnh viện”, mà trung tâm của nó là Đại học Y số 2 Giang Kinh, nằm kề vùng
ngoại ô. Toàn bộ bệnh viện được một vành đai trồng toàn cây ngô đồng chẵn ba
chục năm tuổi vây lại, hết sức yên tĩnh. Nhất là khu buồn bệnh, hoàn toàn cách
xa chốn “ngựa xe như nước, áo quần như nêm” ồn ã ở bên ngoài, thật sự là nơi con
người có thể hoàn toàn tĩnh tâm. Khu buồng bệnh là một tòa nhà lớn ba tầng,
bệnh nhân nam ở tầng hai và ba, bệnh nhân nữ ở tầng một. Phần lớn bệnh nhân đều
nằm ở “khu lớn”, khu này gồm các khoa: khoa bệnh thần kinh thông thường, khoa
bệnh nặng, khoa chăm sóc người già và khoa cai nghiện. Mỗi khoa có đến vài chục
giường bệnh bố trí trong một gian phòng rất rộng, bốn bề đều có phòng y tá trực
ban được cách ly bởi các vách ngăn bằng kính thủy tinh hữu cơ - để các y tá dễ
dàng quan sát mọi động tĩnh bên trong. Khoa bệnh thần kinh thông thường, có số
bệnh nhân đông nhất, lại được chia thành hai khu vực, bên ngoài phòng y tá trực
ban ở phía đông là nhà ăn kiêm vui chơi giải trí với vài dãy bàn dài, bốn góc
treo bốn ti-vi màu. Bên ngoài gian vui chơi giải trí là phòng tiếp người nhà
bệnh nhân và phòng làm việc của bác sĩ. Xa hơn nữa là một hành lang chạy dày đến
tận khu nhà bảy tầng, là nơi khám bệnh kiêm văn phòng hàng chính. Một số ít bệnh
nhân nằm ở tầng ba của “khu nhỏ”, chỉ có vài căn buồng bệnh dành cho một người
hoặc hai người, có y tá chuyên trách chăm sóc. Thường là một số nhân vật đặc
biệt hoặc bệnh nhân nặng mới được bố trí nằm các buồng nhỏ này. Từ lâu, các
buồng nhỏ đã hết chỗ, bà Kiều Doanh cố “tác động” cũng không có kết quả, đành để
cho Diệp Hinh vào nằm buồng chung của khoa thần kinh thông thường. Hinh đã
khóc không biết bao nhiêu lần, cũng cố tỏ ra trấn tĩnh không biết bao nhiêu lần,
nhưng cô càng cố chứng minh trí óc mình vẫn mạnh khỏe thì nhà trường và các
chuyên gia thần kinh lại càng cho rằng cô rất thất thường, trạng thái tinh thần
sai lệch quá lớn, và càng giữ ý kiến buộc cô phải nằm viện. Hầu như không ai
còn tin cô nữa, thậm chí cả mẹ cô cũng vậy. Đã rất nhiều lần cô có cảm giác nỗi
oan ức chứa chất trong lồng ngực khiến cô nghẹt thở, cô muốn đột nhiên “lên cơn”
một phen cho hả. Dường như số phận của cô bị một “bàn tay đen” vô hình nắm lấy
rồi mặc sức xoay vần. Nhưng Hinh vẫn suy ngẫm, và hiểu rằng nếu tiếp tục làm ầm
ỹ thì chỉ khiến cho “bệnh án” của cô thêm dày hơn, đặc biệt là không thể “lên
cơn”, vì chứng cấp cuồng là dấu hiệu rà dấu hiệu rất chuẩn để các bác sĩ thần
kinh phải dùng thuốc, cô không thể dại dột mà chấp nhận bị điều trị. Việc điều
trị bệnh tâm thần chỉ dành cho bệnh nhân tâm thần, tác dụng của thuốc sẽ là có
hại cho những người khỏe mạnh. Cô phải duy trì một bộ não tỉnh táo - đây là con
đường duy nhất để nắm vững vận mệnh của mình. Phải làm thế nào để không bị
dùng thuốc? Hinh nhớ lại bộ phim Nhật Bản “Đuổi bắt” mà cô xem hồi nhỏ, nhân vật
nam vì không muốn uống thuốc chữa thần kinh có hại cho mình nên lần nào anh ta
cũng giả vờ uống thuốc, rồi đi vào nhà vệ sinh nhè ra. Có lẽ mình có thể dùng
cái mẹo này. “Đây là thuốc của em sáng nay. Tôi phải đứng chờ xem em uống
xong. Trông em có vẻ là một cô gái ngoan ngoãn, lại là một sinh viên kia mà! Em
biết không, có nhiều bệnh nhân không chịu nghe lời, khăng khăng rằng mình không
bệnh tật gì cả, cứ học theo bộ phim Nhật Bản “Đuổi bắt” - ngậm thuốc nhưng không
nuốt, hoặc là vào nhà vệ sinh rồi nhè ra. Cho nên chúng tôi đề phòng là chính:
em phải uống từng hụm nước to... đúng thế... nếu chỉ nuốt thuốc mà uống ít nước,
sẽ hại cho dạ dày. Tốt rồi, tôi sẽ ngồi với em một lúc”. Chị y tá đã làm tan
biến mọi hy vọng của Hinh. Hinh lim dim mắt, cô như cảm nhận được hai viên thuốc
đang khoái trá trôi qua thực quản rồi xuống dạ dày mình, chuẩn bị tan vụn ra rồi
thấm vào máu, sau đó tập kích hệ thần kinh nhạy bén và khỏe mạnh của cô bằng
dược tính của nó. Chị y tá đứng quanh ở giường bên một lúc, thấy bệnh nhân ở
“khu nhỏ” này không có khả năng nhè thuốc ra, chị mới chậm rãi bước đi. Hinh
ngồi trên ghế đặt bên đầu giường, nhắm mắt. Chẳng rõ có yếu tố tâm lý hay không,
hình như thuốc đã bắt đầu phát huy tác dụng: cô thấy mình bình tĩnh hơn như tư
duy dường như lại có phần trì trệ. Những hình ảnh trong mấy ngày qua vốn đã đan
xem rối mù... thì bây giờ vẫn cứ rối mù, có điều, chúng như một đống rác tạp
nham chất chồng, không chút sức sống, cũng không chờ đợi cô tháo gỡ. Chẳng lẽ
cứ thế này mãi? Bỗng có ai đó đẩy cô một cái, cô bừng tỉnh. Chị y tá mỉm cười:
“Diệp Hinh, em xem ai đến kìa!” “Mẹ!” Hình như mẹ đang ở phòng đón tiếp người
nhà, cô không nén được nước mắt tuôn trào. Bà Kiều Doanh rất xót xa, cũng trào
nước mắt: có lẽ gộp những lần con gái bà khóc từ thời tiểu học, trung học lại,
cũng chẳng khóc nhiều hơn mấy hôm nay. “Con ạ, mẹ chủ trì một hội nghị định
hướng công tác, đang đi đến hồi kết, mẹ phải trở về mấy hôm. Đây là bệnh viện
tốt nhất của tỉnh, nên mẹ cũng yên tâm để con đến đây điều trị. Vài hôm nữa mẹ
lại đến thăm con, con hãy chịu khó nghe lời bác sĩ...” Hinh nín khóc, chăm
chú nhìn khuôn mặt mẹ. Bà Kiều Doanh vốn vẫn còn nét duyên dáng phong lưu, nhưng
bao lo nghĩ và mệt mỏi mấy hôm nay đã khiến bà già đi ít nhiều. “Lẽ nào chính
mẹ cũng cho rằng con có bệnh thật ư?” Hinh đã hỏi câu này không biết bao
nhiêu lần. “Con gái ngốc nghếch của mẹ, con không có bệnh, lời con nói mẹ đều
tin cả!”. Bà Kiều Doanh ôn tồn trả lời mà lòng đau như dao cắt. Hinh biết mẹ
chỉ an ủi cô đó thôi, chắc chắn bà cũng tin rằng con gái mình cần được vào đây
điều trị. Hai mẹ con bịn rịn chia tay. Lúc bà Kiều Doanh quay ra cửa, Hinh không
nén được lại trào nước mắt. Trở về giường của mình cô vẫn chưa thoát khỏi cảm
giác cô độc sau khi mẹ ra về. Hai tay ôm vai, cô ngồi trên ghế suốt hai tiếng
đồng hồ không hề nhúc nhích. Hình như trên thế gian này chỉ còn lại mình cô. Tạ
Tốn thực đáng giận, anh đang ở đâu? Lẽ nào anh bụng dạ hẹp hòi như thế thật ư?
Thế mà em vẫn đang nhớ đến anh đây, anh có biết không? Âu Dương Sảnh đáng
thương, liệu bao giờ cậu mới khỏi bệnh? Mẹ thân yêu, con mong mẹ sẽ sớm trở lại,
nhưng rồi sao nữa? Họ vẫn cứ giam cầm con ở đây như thế này... Có phải đây là
cảm giác thật sự tuyệt vọng? Mọi nỗi hãi hùng trước đây chỉ là khiến cô kinh sợ
mà thôi. Cứ như thế, Hinh ngồi đến khuya, cô y tá vài lần đến khuyên Hinh đi
ngủ, Hinh mới uể oải nằm xuống. Cô văng vẳng nghe thấy các cô y tá thở dài nói
với nhau: “Cô sinh viên ấy thật đáng ái ngại, chắc là thuốc đã ngấm rồi
đấy” “Mới uống thuốc có một ngày mà có tác dụng nhanh thế kia à?” “Cũng
khó nói lắm”. Lẽ nào mình bị thuốc tác dụng thật nên mới sa sút như thế này?
Nhưng tình thế lúc này mình không sa sút làm sao được? Liệu có phải ngày mai
mình sẽ phấn chấn lên chăng? Nhưng nếu thế họ liệu có bắt mình uống thêm thuốc
không? Hình như họ mong mình cứ xẹp đi như thế này thì mới gọi là thuốc có hiệu
quả! Hinh nghĩ ngợi miên man rối bời, mơ màng ngủ thiếp đi. Đây đâu phải là
phòng 405, sao lại cũng có một khuôn mặt nát bươm? Không có tiếng nhạc, không có
ánh sáng nhợt nhạt, nhưng lại thấy bóng cô gái áo trắng chập chờn mờ tỏ. Đúng là
đang ngủ mê, nhưng hình như lại rõ hơn là cảnh có thật. Hinh chăm chú nhìn khuôn
mặt dập nát của cô gái, hình như đã từng quen nhau... “Tại cô nên tôi mới nên
nông nỗi này, phải ở chung với đám người điên!” Cô gái áo trắng lắc đầu. và
giơ đôi tay về phía Hinh, mười ngón tay xương xẩu hướng tới mặt cô. Cô định xua
tay cưỡng lại, nhưng đôi tay cô như bị đè nặng, bất lực không sao nhấc lên
được. Cơn ác mộng này không thể kéo dài lâu thêm nữa. Hinh mở to mắt, trời
ơi... một khuôn mặt nát bươm! Ánh đèn yếu ớt bật suốt đêm ở phòng y tá trực
ban có thể hắt vào buồng bệnh nhân qua vách thủy tinh hữu cơ, vì cự ly quá xa
nên quanh giường Hinh vẫn rất tối, tuy nhiên cô vẫn có thể nhìn rõ người phụ nữ
ấy có khuôn mặt dập nát, một bàn tay bịt lấy miệng cô, bàn tay kia xoa lên mặt
cô và nói: “Làn da thật mịn màng!”. Hai cánh tay Hinh cũng bị hai bàn tay khác
giữ chặt. Hai phụ nữ mặc quần áo bệnh viện màu trắng đang đứng bên giường Hinh,
một người mặt nát bươm, nói đúng ra là mặt nham nhở chằng chịt, nhìn trong lúc
mờ tối thế này phải giật mình, người kia thì nhìn không rõ mặt nhưng rất khỏe,
đang ghì tay Hinh đau điếng. Hinh muốn kêu lên nhưng miệng bị bịt chặt nên đành
chịu. Rất nhanh, người mặt sẹo thò tay lần cởi khuy áo ngủ của Hinh. Hinh giẫy
giụa, quẫy chân nhưng họ khỏe hơn cô nhiều, xem chừng cô đã hết hy vọng. Đôi tay
đang ghì cô bỗng buông ra, và một loạt những âm thanh quái dị vọng đến. Hinh lập
tức nhảy xuống giường, ấn chuông cầu cứu phòng y tá trực ban. Rồi chỉ nhìn thấy
ở phía xa xa, người phụ nữ mặt sẹo đang đánh nhau với hai người khác, các cô y
tá nghe thấy tiếng chuông ở bên này bèn chạy vào, các bệnh nhân khác cũng bị
tỉnh dậy bởi tiếng ồn, họ vây lại ngó xem. Các cô y tá kéo ba người tách ra.
Ngoài người phụ nữ mặt sẹo, thì người thứ hai là một phụ nữ tuổi trung niên -
nhìn vóc dáng thì có lẽ là người lúc nãy vừa ghì tay Hinh, người kia là một bà
già tóc hoa râm. Một cô y tá trách móc: “Lại là các người! Nếu còn làm loạn lên
nữa, chúng tôi sẽ báo cáo bác sĩ dí điện để điều trị cho các người!”. Lúc này
lại có một nam y tá thân hình lực lưỡng chạy đến, một cô y tá nói: “Cô sinh viên
không vấn đề gì, còn ba người này thì phải đưa về giường, đêm nay phải trói lại
mà ngủ kẻo lại gây rắc rối!”. Hinh vội nói: “Hình như bà già không làm gì
đâu, đừng trách oan bà ấy”. Cô y tá cười nhạt: “Không làm gì à? Cô nhìn hai
người kia bị đau ra sao thì biết”. Đúng thế, người đàn bà mặt sẹo lại bị thêm
một vết máu trên mặt, còn người đàn bà to vâm thì trán sưng vù, cánh tay phải
thõng xuống như là bị trật khớp. Rõ ràng là bà già ấy đã cứu Hinh. Hai người kia
bị trừng trị là đáng rồi, bà già ra tay cũng khiếp thật. Nhưng bà già có vẻ rồ
dại kia sao có thể khiến hai nữ bệnh nhân cao to, ít tuổi hơn hẳn bị ăn đòn
khiếp thế? Bà già bỗng tỏ vẻ vô tội, nói nghèn nghẹn: “Tôi có làm gì đâu? Các...
các cô nhìn xem, thân già này chưa bị họ nghiền nát ra là đã phải tạ ơn trời đất
rồi, sao lại trói tôi?”. Hai nam y tá đưa bà già vào đầu tiên, hình như bà
còn nguy hiểm hơn cả hai người kia. Hinh đưa mắt nhìn sang, thấy giường của bà
cách giường của cô không xa lắm. Anh y tá ấn bà nằm xuống giường, thắt chặt bà
bằng dây đai da buộc sẵn ngay mép giường. Còn hai bệnh nhân đã nạt nộ Diệp Hinh
thì được đưa đi điều trị vết thương. Vẳng nghe thấy tiếng cô y tá cảnh cáo: “Nếu
các người còn dám làm thế nữa thì sẽ bị đưa sang khu bệnh nhân nặng, rồi sẽ được
gặp đối thủ còn dữ dằn hơn các người”. Lúc này Hinh mới cảm thấy rõ nỗi ê
chề, sợ hãi, oán hận đang cùng ập đến với cô. Cô thút thít khóc, y tá đến an ủi
cô cũng chẳng thiết nghe.. Vào lúc cô độc không biết bấu víu vào đâu, điều mà
Hinh cần không chỉ là an ủi. Điều mà cô cần là tình yêu. Chỉ có tình yêu mới
khiến cô lại có can đảm. Nửa đêm về sáng, Hinh hầu như không chợp mắt. Vào
giờ đến khám phòng buổi sáng, bác sĩ Đằng Lương Tuấn thấy đôi mắt Hinh có quầng
thâm, ông nghĩ bụng: “Có lẽ bệnh cô ta còn nặng hơn mình dự đoán”. Cô y tá đứng
bên báo cáo rằng cô sinh viên này từ sau khi uống thuốc đã rất yên ổn, hầu như
cả ngày không nói một câu. “Tốt rồi, vậy là thuốc rất phù hợp với cô ta”. Ông
Tuấn gật đầu tỏ ý bằng lòng, đồng thời đưa ra phác đồ điều trị cho Diệp Hinh.
Ông là nhân vật hàng đầu thuộc trường phái phân tích thần kinh của bệnh viện
này, tích lũy kinh nghiệm sau chuyến du học Mỹ, ông rất tin ở kỹ thuật lâm sàng
của mình. Trông ông rất có phong độ, nói năng khúc chiết, rất dễ khiến cho bệnh
nhân có thiện cảm, vì thế họ thường thẳng thắn bộc bạch với ông mọi nỗi niềm,
rất có lợi cho việc điều trị của ông. “Bạn Diệp Hinh đừng nên nghĩ ngợi
nhiều, tôi đã lập phác đồ cho bạn, chỉ cần chúng ta nói chuyện vài lần để tháo
gỡ những băn khoăn trong lòng, thì chỉ ít hôm sau bạn có thể ra viện”. Ông Tuấn
nói hết sức nhẹ nhàng để tranh thủ niềm tin và thiện cảm của Hinh. “Xin tùy
bác sĩ Tuấn, cháu nhất định sẽ làm theo ý bác sĩ”. Thái độ ung dung của Hinh
khiến ông Tuấn thầm ngạc nhiên, không biết nên mừng hay nên lo. Nếu cô ta thực
sự nhẹ nhõm thế này thì thật là quá tốt, nhưng nếu chỉ là bề ngoài thôi thì sao?
Mình sẽ tìm tác nhân gây bệnh như thế nào? Biểu hiện tỉnh táo thế này sẽ là cái
cớ để Từ Hải Đình bắt bẻ này nọ! Đến giờ ăn trưa, Hinh bưng khay đến trước
cửa sổ nhà ăn chờ lĩnh suất ăn. Rất đông người xếp hàng, thỉnh thoảng có bệnh
nhân lỡ đánh rơi khay, cơm canh thức ăn vung vãi tứ tung trông chết khiếp, các
nhân viên lại phải đến quét dọn, hàng ngũ lại càng chậm tiến. “Cô đừng tưởng
có thể trốn được tôi”. Một giọng nói lạnh tanh. Hinh ngoái đầu lại, ớn lạnh:
chính là người đàn bà mặt sẹo tối qua. Rõ ràng chị ta nhân lúc các y tá không để
ý đã chen ngang đứng phía đằng sau Hinh. Các bệnh nhân đứng phía sau bắt đầu chỉ
trích, thậm chí có người chửi bới thô tục. Người đàn bà mặt sẹo ngoảnh lại nhăn
mặt, mím môi dọa dẫm khiến mọi người cũng bớt xì xào hơn. “Chị đừng tưởng tôi
sợ chị thật!”. Hinh nói thản nhiên, chẳng buồn quay mặt lại. Cô cũng chẳng hiểu
lòng can đảm của mình có từ đâu, nhưng cô biết, ở đây chỉ cô mới có thể bảo vệ
cho chính cô. Chị mặt sẹo ngớ ra, hoàn toàn không ngờ cô học sinh trông non
choẹt yếu ớt này lại dám có gan như thế. Chị ta cười hì hì, đổi giọng: “Được,
tôi thích cái tính này của cô! Thực ra tôi đâu có đáng sợ như thế, chỉ vì bị ở
đây lâu quá thì thấy buồn. Cô lại mới đến, chưa quen biết ai nên tôi muốn kết
bạn với cô để cùng âu yếm với nhau”. Hinh nghe chị ta nói hai chữ “âu yếm”
thật quái dị nhưng cũng thấy sờ sợ, cô cố ra vẻ điềm tĩnh: “Tôi quá sẵn các bạn
ở trường học, đằng nào thì tôi cũng không ở đây lâu, tôi chẳng lo sẽ bị cô
đơn”. “Này, cô không biết thật hay giả vờ không biết thế? Đã vào đến đây thì
đâu phải chỉ là nhức đầu sổ mũi lặt vặt, làm gì có chuyện dăm bữa nửa tháng là
ra viện. Mà dù có ra viện thì chỉ ít lâu sau sẽ lại quay vào. Nếu không quay vào
thì chỉ có một khả năng là lên chầu trời, giống như mấy cô gái ở trường cô ngày
trước!” Hinh bỗng chột dạ: “Chị cũng biết chuyện về các cô gái ấy à? Chị đã
biết những gì?” “Tôi đã ở đây mười mấy năm, sao lại không biết? “Vụ án mưu
sát 405” nghe quen tai chứ?” “Chị nói cụ thể hơn được không?” Hinh sốt ruột
hỏi “Cô đừng hung với tôi thì tôi sẽ cho cô biết. Đến giờ hoạt động tự do
chiều nay, cô hãy đi bách bộ với tôi, có được không?” Chị mặt sẹo ôn tồn
nói. Hinh thấy dạ dày cô oi ói buồn nôn, cô giận mình suýt nữa mắc lừa chị
mặt sẹo. Có phải tại mình uống thuốc thần kinh nên đầu óc bị lú lẫn hay không?
Cô quay đi, không để ý đến chị ta nữa. Chị ta không chịu thôi, lại bám hỏi:
“Lát nữa ta cùng ngồi ăn với nhau có được không?” “Được chứ, nếu có thể cho
bà lão xấu xí này ngồi cùng hai người thì càng hay”. Người nói câu này chính là
bà già đã cứu Hinh tối qua. Chắc bà phải xấp xỉ tuổi bảy mươi, lưng hơi còng
nhưng đầu tóc chải rất gọn ghẽ. Mặt bà đầy những nếp nhăn, đôi mắt mờ đục, cũng
không có gì khác với các vị cao niên thường gặp; bà nói năng cũng rất bình
thường, nhưng tại sao phải vào nằm viện tâm thần? Nghĩ đến đây Hinh khẽ thở dài.
Cô tự thấy mình rất bình thường, thế mà cũng phải vào đây kia mà! “Bà ạ, cháu
cảm ơn bà tối qua đã giúp cháu!” Bà già lấy làm lạ, nhìn Hinh: “Tôi giúp cô
cái gì nhỉ?” Hinh lại thở dài, xem ra bà già bị vào đây không phải là không
có lý. “Thực ra chỉ cô mới giúp được cô thôi”. Bà già lẩm bẩm rồi chen lên
đứng trước Hinh (nhà ăn của bệnh viện có quy định rằng người già trên 65 tuổi
không phải xếp hàng khi lĩnh cơm). Bà bưng khay cơm canh từ ô cửa sổ nhỏ rồi
quay đi luôn, chẳng buồn nhìn Hinh nữa. Hinh thấy lời nói của bà còn có ẩn ý gì
đó, bèn bưng khay đồ ăn của mình đến ngồi bên cạnh bà. “Cháu là Diệp Hinh,
chẳng lẽ bà đã quên tối qua bà vừa cứu cháu à? Thôi được, dù bà nhớ hay quên
cháu cũng xin cảm ơn bà! Cháu xin hỏi, bà là...” Chị mặt sẹo cũng đến ngồi
cùng, cười nhạt: “Bà ấy là Uông Lan San nổi tiếng ra trò! Nếu cô trò chuyện ăn ý
với bà ấy, thì cô chỉ có chết! Mấy cô sinh viên của trường cô ngày trước đều
thân với bà ấy, cô xem hậu quả là gì nào?” Hinh lừ mắt nhìn chị mặt sẹo,
nhưng không ngờ bà già lại nói: “Chị ta nói không sai đâu”. Hinh ngạc nhiên:
“Sao lại nói thế? Làm gì có mối liên quan đó? Cháu không tin, các chị kia chết
đều do các nguyên nhân khác... nói thế này tức là chắc chắn bà cũng biết về “vụ
mưu sát 405”?” “Những ai tự cho rằng mình biết, thường lại là chẳng biết gì”.
Bà Uông Lan San không trả lời thẳng vào câu hỏi. “Thấy chưa, bà già này dở
hơi!” Chị mặt sẹo không bỏ lỡ cơ hội, “trả thù” luôn. “Phải! Không dở hơi thì
tại sao phải ở đây bốn chục năm? Trong những người hay ra vào chỗ này, có vài
người nằm viện hơn chục năm là cùng, đã tưởng mình là bậc nguyên lão rồi”. Bà
San phản kích chị mặt sẹo, chứng tỏ bà hoàn toàn không có bệnh tật gì. Vậy
những con người này là thế nào đây? Hinh bỗng thấy ngao ngán đến cùng cực,
xem chừng mình đành phải thích nghi chung sống với đám người rồ dại kỳ cục này
vậy. Nếu muốn giao lưu với họ thì mình cũng phải suy nghĩ như kiểu của họ chăng?
Còn có việc gì khó hơn điều này đây? Họ rõ ràng là những con người cần được quan
tâm giúp đỡ, nhưng ai sẽ giúp đỡ mình đây? Điều Hinh có thể làm, dường như
chỉ lại là ngồi ngây trên giường, có lẽ chỉ có cách này mới có thể giữ được sự
tỉnh táo cho mình. Đã đến giờ được hoạt động tự do, các bệnh nhân đều ra đánh
bóng bàn, tập thể dục, đi bách bộ... chỉ có Diệp Hinh vẫn ngồi bất động trên
giường. Chị mặt sẹo lại đến bên cạnh nói những câu vớ vẩn chẳng đâu vào đâu.
Hinh chán ngán nhìn chị ta một hồi, rồi dứt khoát nhắm mắt lại không để ý
nữa. “Mấy cô kia lúc mới đến cũng thế này”. Một giọng thiếu nữ trong trẻo
như tiếng chuông bạc. Tại sao mình lại chưa để ý rằng ở đây còn có một cô gái
trẻ như thế? Hinh mở mắt ra nhìn, cô lạnh cả người. Đâu phải là một cô thiếu nữ,
mà chính là bà già Uông Lan San. Tại sao bà ý lại bắt chước giọng của bé
gái? “Bà San, bà...” “Chị ơi, chị ra kia đi dạo với em được không?” Đôi
mắt mờ đục của bà San hình như cũng trong hơn trước, long lanh sức xuân mà chỉ
tuổi trẻ mới có. Hinh cảm thấy toàn thân rùng rùng ớn lạnh, cô đứng lên rồi
lùi lại một bước “Bà... bà là ai?” Bà San bước lên một bước, đưa tay ra nắm
lấy tay Hinh: “Em là Tôn Tĩnh Tĩnh, em ít tuổi nhất ở đây, chuyện trò chẳng hợp
với ai cả, may mà chị lại vào đây, tuổi không chênh nhau là mấy, chúng ta kết
bạn đi”. Hinh đưa tay ra sau lưng, giọng run run: “Cô... năm nay bao nhiêu
tuổi?” “16 ạ!” Hinh bấm nút chuông đặt ở đầu giường xin trợ giúp, một cô y
tá đi vào, nhìn tình thế cô hiểu ra ngay: “Bà San lại quậy nữa à?” “Em là Tôn
Tĩnh Tĩnh kia mà!”. Bà San eo éo cãi lại. Cô y tá đưa bà ta ra, bà ta vừa giãy
giụa vừa ngoái đầu lại nhìn Diệp Hinh bằng ánh mắt dữ tợn ai oán, hỏi lạnh lùng:
“Tại sao chị lại không chơi với em?” |
|
|
|
 |
dyelvn
Điều hành
Gia nhập: 19 Dec 2009
Trạng thái: Offline
Bài viết: 695
|
Tùy chọn bài viết
Trích dẫn Trả lời
Đăng: 11 Mar 2010 vào lúc 11:42am |
Chương 16 Ánh trăng, mặt nát, nhập vai
|
“Bà ấy cũng như tôi, sẽ
không buông tha cô đâu” Diệp Hinh nghe câu này, cô lại rợn người, thì ra chị mặt
sẹo đã đứng sau lưng cô tự lúc nào, khoái trá buông ra một câu. Hinh định nói
mấy câu để tỏ ra cứng cỏi nhưng lại thấy làm như thế là dối mình và dối người.
Cô mím chặt miệng, nước mắt trào ra. Chị mặt sẹo ngồi sà ngay vào ghế kê bên
cạnh giường Hinh, lẩm bẩm nói: “Tôn Tĩnh Tĩnh, đã lâu không gặp cô ta! Cô biết
không, đó chỉ là một trong vài chục vai của bà Uông Lan San. Hình như bà San
luôn sắm vai Tĩnh Tĩnh để làm quen với các nữ sinh trường cô vào đây ngày
trước... Đây là hiện tượng phân tách nhân cách điển hình, cô là sinh viên y
khoa, chắc cô không thể không biết?” Hinh ghét cay ghét đắng chị ta, cô định
ấn chuông xin trợ giúp nhưng lại nghĩ chị ta cũng chưa làm điều gì quá đáng, thì
mặc xác chị ta vậy. Hinh bèn bỏ ra ngoài phòng. Ra hít thở không khí trong lành
có lẽ sẽ dễ chịu hơn. Chị mặt sẹo bám theo luôn: “Tôi biết mà, cô không có
bệnh gì hết” Hinh đứng lại ngay. Suốt bao ngày qua, đây là người đầu tiên nói
thẳng với Hinh rằng cô chẳng có bệnh gì cả. Nhưng đáng buồn thay, người ấy lại
là một bệnh nhân tâm thần! “Thực ra so với các loại bệnh ở cơ quan khác, tỷ
lệ chẩn đoán sai bệnh thần kinh cao hơn nhiều” Câu nói này hoàn toàn không giống
như của một bệnh nhân tâm thần. Hinh ngạc nhiên nhìn chị ta. “Chị rốt cuộc là
người thế nào? Tại sao chị biết tôi không có bệnh?” Hinh cuối cùng cũng mở miệng
nói. Chị mặt sẹo bình thản nói: “Tôi vốn là bác sĩ mà. Cô có cảm giác gì tôi
là một bệnh nhân hay không?” “Nhưng tối qua chị lại giống như một con dã
thú!” Hinh hậm hực nói. “Sao lại có thể trách tôi gì được? Phòng này toàn là
nữ, tôi có nhu cầu bản năng của tôi”. “Chị bảo rằng chị không có bệnh, vậy
tại sao chị phải ở đây bao năm trời?”. Chẳng hiểu ai xui khiến, thế là Hinh bắt
chuyện với chị ta. Hai người cùng ra khỏi phòng, đi dọc theo hành lang. “Bởi
vì xã hội chẳng chấp nhận tôi. Cô biết tại sao mặt tôi trở thành thế này không?
Cô im lặng nhưng tôi biết lòng cô vẫn thầm hỏi, đúng không?” Hinh gật đầu và
càng cảm nhận ra rằng người phụ nữ này không như các bệnh nhân bình thường
khác “Sau khi tốt nghiệp đại học Y, tôi được cử đến làm việc ở một bệnh viện
cấp thành phố. Ở khoa có một bác sĩ chính có chuyên môn rất cao, con người cũng
rất phong độ, đám nữ y tá nữ bác sĩ trẻ đều rất say mê ông. Chỉ riêng tôi vì
miệt mài với công việc nên ít khi cười đùa với ông. Nhưng ông ta hoàn toàn không
như Liễu Hạ Huệ (tên thật là Triển Hoạch, người nước Lỗ thời Đông Chu, đức cao
vọng trọng), tuy đã có vợ con nhưng lối sống vẫn rất tùy tiện, các nữ đồng
nghiệp xán đến thì ông ấy “chiều” tất, lại vẫn thường xuyên “đánh tín hiệu” với
tôi nữa. Tôi không muốn bị sa vào chốn rắc rối ấy, và cũng coi khinh nhân cách
của ông ta nên tôi nhất quyết giữ một khoảng cách với ông ta. Một hôm chúng
tôi được sắp xếp vào cùng một ca trực, tôi đang ở trong phòng trực ban ngồi viết
bệnh án thì ông ta vào, toàn nói những chuyện trời ơi đất hỡi và “đụng chạm” vào
tôi. Tôi phản đối nhưng ông ta không chịu dừng lại, rồi ôm chặt... xoa người hôn
hít. Khi tôi đang gắng chống cự thì cửa phòng bỗng mở toang. Thì ra là vợ ông ta
vẫn nghe đồn đại biết chuyện trăng hoa của chồng, nên bất thình lình tìm đến
bệnh viện và bắt gặp ngay cảnh tượng này. Chị ta cho rằng chúng tôi đang vụng
trộm, nên giận dữ chửi rủa một hồi, rồi quay ra. Vài phút sau chị ta quay vào,
cầm một lọ axit sun-phua-ric tạt vào người tôi” Hai người bước vào vườn hoa
trong sân bệnh viện. Đi dưới ánh nắng mà Hinh thấy rùng mình sởn gáy. Chị mặt
sẹo nói mỗi lúc một gấp như là chị lại trải qua cái cảnh này. “Vì thế mà
khuôn mặt tôi thành ra như hiện nay. Sau chuyện đó tôi rất đau khổ, âu cũng là
lẽ đương nhiên. Nhưng áng chừng họ sợ tôi sẽ có hành động trả thù gì đó, cho nên
sau khi chữa lành vết thương cho tôi, họ tống tôi vào đây”. Chị mặt sẹo phẫn
uất, tay bưng lấy mặt không dám nhớ lại thêm nữa. Diệp Hinh bắt đầu thấy cảm
thông với chị. “Nhưng ít lâu sau các bác sĩ nhận ra rằng tôi không có vấn đề
gì cả, bèn cho tôi ra viện, trở lại làm việc. Khi gặp lại người đàn ông kia, tôi
không sao nén nổi, bèn xông vào bóp cổ hắn...” Hinh định kêu lên nhưng không
thành tiếng vì chị mặt sẹo đã bóp ngay cổ cô, gằn giọng: “Tại sao, tại sao mặt
ta thành ra thế này ngươi mới chịu nhìn ta?”. Thì ra chị ta nói năng toàn “râu
ông nọ cắm cằm bà kia”, nhưng Hinh không nghĩ gì khá, cô vung tay đấm vào người
chị ta, nhưng vì cổ đang bị nghẹt thở nên nắm đấm cũng chẳng có chút sức lực
nào. Tuy gọi là vào giờ “tự do hoạt động” nhưng vẫn có các y tá theo dõi các
khu vườn hoa, chỉ hiềm chị chị mặt sẹo đã cố ý dụ Hinh đến sau ngọn giả sơn để
thoát khỏi tầm nhìn của các y tá. Cho đến lúc có vài bệnh nhân đi đến nhìn thấy
cảnh bạo lực này, các y tá mới chạy đến kéo chị mặt sẹo ra. “Cứ yên tâm,
chúng tôi sẽ đưa chị ta sang khu bệnh nhân nặng... Chị ta rất hay lừa gạt người
khác, cũng đã bình ổn được một thời gian dài, nhưng hễ trông thấy các cô gái
xinh xắn thì chị ta lại giở chứng quái ác ra ngay... Chị ta mắc chứng hoang
tưởng, trước kia đã từng yêu một anh có vợ, bị anh ta phớt lờ. Nhưng chị ta lại
nghĩ trái khoáy, cho rằng vợ anh ta muốn hại mình! Thế là chị ta tự hủy hoại
nhan sắc...” Chị y tá an ủi Diệp Hinh vẫn còn đang thấy sợ, nên đã kể cho cô
nghe câu chuyện mà hầu hết các bệnh nhân ở đây đều đã biết. Nhưng Hinh lại
không nghe thấy gì cả, cô nằm ngay đơ trên giường của mình, nhìn lên trần nhà
cao, một câu hỏi lặp đi lặp lại mãi trong đầu cô: chẳng lẽ cuộc sống của mình cứ
tiếp diễn mãi như thế này ư? Có phải mấy cô sinh viên trước kia nằm viện tâm
thần đều vì trải qua cảnh ngộ này nên mới mất hết niềm tin để tiếp tục
sống? Cơn đau đầu dữ dội bỗng lại ập đến.
Về khuya các phòng trực ban
y tá xung quanh chỉ bật đèn lờ mờ, Hinh bất đắc dĩ chìm dần vào giấc ngủ. Biết
đến bao giờ mới có một giấc mơ đẹp? Dường như đêm nay cô có cảm giác rất tốt
đẹp, vì nghe thấy tiếng piano dịu ngọt cùng một giọng nữ tuyệt hay:
Ánh
trăng sáng trong, nỗi sầu não lòng Tóc mai điểm bạc, em nhớ người
thương
Ánh trăng lạnh lẽo, khó nhòa nỗi buồn Lòng trống vắng, sao đêm
mãi chưa tàn?
Bước đi trong cô quạnh, nỗi sầu bi xé lòng Nhớ nhung da
diết, tựa cửa sổ thư phòng Mong đuổi theo trăng tà, cùng chàng đi muôn
phương.
Giọng hát và tiếng đàn piano sao nghe quen quen, hình như từng
nghe thấy trong những giấc mơ... Hinh biết đó là giai điệu của bản nhạc “Ánh
trăng” của Bet-tô-ven. Chẳng lẽ trong các cơn ác mộng trước kia mình nghe thấy
cũng là nó? Nhưng tại sao mình lại không nhận ra? Có phải là tại vì đang ở trong
giấc mơ? Nhưng lúc này chẳng phải đang mơ là gì? Sao lại nghe thấy rõ như thế
này? Tiếng hát và tiếng đàn này cũng thật lạ lùng, dường như nó đến từ nơi
chân trời xa thẳm, nhưng lại như đang dìu dặt ở ngay căn buồng này. Hinh trở
dậy, bước đi về phía có tiếng hát, đi đến bên cửa sổ ở một góc căn buồng. Dưới
ánh sáng mờ mờ, thấy một bóng người mặc đồ trắng, tóc buông dài dưới vai đang
tựa cửa sổ cất tiếng hát. Chất giọng này như một thứ âm thanh của thiên
nhiên. Chắc là mình đang mơ? Nhưng Hinh không nghĩ gì nữa, tiếng hát tuyệt
vời thế này dù đang là trong mơ thì vẫn khiến cô thấy rất dễ chịu - chỉ cần
không nhìn thấy khuôn mặt nát bươm kia là được! Tiếng hát bỗng im bặt. Người
mặc đồ trắng vừa hát bỗng quay đầu lại, đập vào mắt Hinh sau bức rèm cửa sổ là
một khuôn mặt nát bươm. Tiếng kêu thét xen lẫn tiếng khóc vang khắp cả khu
buồng bệnh nhân. Người phụ nữ áo trắng khẽ cười, đưa tay lên bóc gỡ mặt mình,
khuôn mặt rách nát bỗng biến mất, chỉ còn lại khuôn mặt của bà già Uông Lan San.
Thì ra khuôn mặt nát bươm kia chỉ là chiếc mặt nạ được vẽ cực khéo giống y như
thật. Thấy có tiếng ồn, hai y tá trực ban vội chạy đến, nhìn cảnh trước mắt một
cô y tá mắng gay gắt: “Lại là bà San! Bà đừng quấy nhiễu cô Hinh nữa được
không?”. Còn cô kia thì bước đến giật bộ tóc giả khá dài của bà San xuống: “Bà
lại kiếm đâu ra mấy cái của nợ này? Trong buồng bệnh nhân cấm dùng các vật dụng
nguy hiểm kia mà!” Bà San lúc nãy đang có “eo thon”, bây giờ lại thẳng đơ đơ,
vẻ mặt vô cảm: “Tôi hát là việc của tôi, tự cô ta ra nghe kia mà, sao lại nói là
tôi quấy nhiễu?” Phát âm tròn trịa mềm mại đầy đặn như giọng một cô gái. Lúc
này nỗi kinh hãi bất ngờ đến với Hinh đã bắt đầu chùng lại, cô nhìn thẳng vào
mắt của bà San, đôi mắt ấy vừa có phần u uẩn vừa có vẻ phóng túng, hình như cô
đã từng thấy ở đâu đó. Vậy bà San là một bệnh nhân như thế nào? Dường như bà
ta đã tái hiện giấc mơ của Hinh. Bà ta biết được bao nhiêu đầu mối liên quan đến
“vụ mưu sát 405”? Cô y tá đưa bà San về giường. Hinh bước theo hỏi: “Bà là
ai?” Bà San ngoái lại, cười tươi rói nhưng trả lời “lạc đề”: “Tôi hát có hay
không?” Một nụ cười khiến người ta phải rung động, một bà lão ở tuổi thất
thập sao có thể có nụ cười như thế này? “Rất hay. Không ngờ bà lại luyện được
giọng hát hay đến thế!” “Vậy là tôi đã chẳng sống phí hoài hơn hai chục năm
trời! Nhưng nói cho cùng tôi vẫn là một kẻ bỏ đi, chỉ biết chơi đàn, ca hát mà
thôi”. Bà San rầu rĩ thở dài. “Này, thực ra bà là ai?” Một cô y tá nói:
“Thôi nào, cô Hinh vào ngủ đi! Cái vai mà bà ta sắm đêm nay, hình như... bà ta
rất ít dùng. Tôi cũng không sao nhớ ra được nữa!” Cô y tá tuổi trung niên
cười nói: “Thế thì phải phê bình cô vì tội chưa chịu trau dồi nghiệp vụ mới
được! Đây là vai Trang Ái Vân, bà ta ít khi dùng. Tôi là ở đây lâu, đã chứng
kiến vài lần, hình như chỉ diễn trước các cô sinh viên mà thôi!” Trang Ái Vân
là ai? Tại sao lại giống cô gái áo trắng mà mình vẫn mơ thấy? Cô ta có liên quan
gì đến khuôn mặt nát bươm? Bà San thực chất là người như thế nào? Các vai nhân
cách khác nhau mà bà ta sắm, nảy sinh ra từ đâu? Nghe nói đa số người mắc bệnh
nhân cách phân liệt thường chỉ sắm hai vai, nhưng tại sao bà San lại “biến
tướng” nhiều như thế? Liệu có còn sắm thêm các vai quái dị khác nữa
không? Hinh trở về giường mình, lòng đầy nghi hoặc băn khoăn, trằn trọc mãi
vẫn không ngủ được. Cái tên Trang Ái Vân này hoàn toàn xa lạ. Hinh lần lượt điểm
lại tên các cô sinh viên trong vụ “405”: Tưởng Dục Hồng, Du Tĩnh, Lý Thục Nham,
Hạ Tiểu Nhã, Nghê Na, Trương Thiên Lộ, Thẩm Vệ Thanh... không hề thấy có tên
Trang Ái Vân. Phải chăng cô ta là nhân vật mở đầu trong sê-ri nạn nhân
này? Hinh phát triển hướng suy nghĩ của mình: lạ thật, nạn nhân đầu tiên là
Du Tĩnh thì chưa hề đi viện tâm thần, Dục Hồng là bạn thân của Du Tĩnh. Theo
điều tra của anh Bành thì lúc Du Tĩnh nhảy lầu thì Dục Hồng đang nằm viện - tức
là vì nằm viện cho nên Dục Hồng mới tránh được cái chết thuộc về năm thứ nhất.
Nhưng có cái âm khí lạnh lẽo đã bao phủ lên phòng 405 để đến nỗi năm sau Dục
Hồng cũng lại nhảy lầu? Để rồi nhà trường không những phải đóng cửa căn phòng mà
còn đưa ra quy định “luân lưu đến ở”. Tức là học xong năm thứ nhất thì các nữ
sinh phải chuyển đến ký túc xá của các chị sinh viên năm cuối vừa tốt nghiệp,
“đẩy” mối chết chóc cho sinh viên mới vào trường. Suy luận từ sự việc của Dục
Hồng, nếu ngày 16 tháng 6 sắp đến mình vẫn đang nằm viện, liệu mình có thể thoát
nạn hay không? “Tiếc rằng cô cũng như tôi, phải chết là cái chắc!” Lời một cô
gái vẳng đến tai Hinh, đậm chất giọng miền Giang Nam nói tiếng phổ
thông. Hinh thót tim định kêu lên. Cô căng mắt nhìn trong bóng tối mờ mờ thấy
một cô gái ngồi trên chiếc ghế đặt cạnh giường cô, mái tóc buông lửng phủ che
kín mặt nên không thể nhìn rõ. “Chị là ai?” Hinh thấy quá lạ lùng, cô bỗng
trở nên can đảm, cô không bấm chuông xin gọi trợ giúp. “Là Tưởng Dục
Hồng” Từng đợt giá lạnh đang dần bủa vây lấy cô, không phải vì Dục Hồng đã
chết từ lâu mà là vì người con gái đang đứng bên đã nhìn thấu tư tưởng của cô.
Cái khả năng này quá đủ để người ta cảm thấy nghẹt thở. Nhưng nỗi sợ hãi cũng
tựa như thuốc phiện, có thể gây nghiện. Lúc này Hinh hoàn toàn có thể kêu lên
hoặc bấm chuông cầu cứu, nhưng cô chỉ hơi thẳng người lên và quyết định phải hỏi
xem sao, tuy thế nỗi sợ hãi vẫn xen trong giọng Hinh run run: “Tưởng Dục Hồng...
đã chết 16 năm trước, vậy chị là người... hay là ma?” “Cô tin rằng trên đời
này có ma thật không?” “Trước đây tôi không tin... nhưng bây giờ cũng không
rõ nữa. Đã có quá nhiều sự việc không sao giải thích nổi xảy ra với tôi, tôi
chẳng biết có nên tin ở đôi mắt đôi tai của mình nữa hay không...” “Trước kia
tôi đã về đội sản xuất ở vùng núi Quý Châu, bên ngoài bản là một vách núi hoang
vu, trên đó có treo mấy cỗ quan tài (tập quán Phong Táng của một số dân tộc ít
người ở TQ: không chôn mà chỉ đặt quan tài lên đó, thậm chí có nơi còn không đặt
quan tài). Dân bản đều nói rằng trên vách núi và dưới vực sâu đều có ma, nhưng
mấy thanh niên học sinh chúng tôi vì buồn tẻ, lại muốn xóa bỏ mê tín dị đoan nên
rủ nhau ra đó vào lúc nửa đêm. Lại còn cá với nhau rằng ai thấy sợ phải bật đèn
pin thì người đó phải khao cả bọn một chầu. Cứ thế chúng tôi ra đó vài đêm,
chẳng thấy chuyện gì xảy ra cả. Sau này chúng tôi lần lượt trở về thành phố, ai
cũng vẫn khỏe mạnh như bình thường” “Các chuyện ấy toàn là mê tín, làm gì có
ma, đúng không? Người khác nói với tôi điều này tôi còn tin, nữa là chị
nói”. “Cô đang suy luận, chứ tôi chưa nói với cô điều gì cả”. Dục Hồng bỗng
hơi dựa người ra phía trước, chỉ tay vào thái dương của mình và nói: “Tất cả,
tất cả đều nằm ở đây! Có là ở đây, không có cũng là ở đây!” “Vậy thì mùa xuân
năm ấy đã xảy ra chuyện gì?” “Bạn thân nhất của tôi là Du Tĩnh chết” “Tại
sao chị lại phải vào nằm viện này?” “Họ bảo rằng tôi mắc phải chứng tâm thần
phân liệt. Mùa xuân năm đó tôi bỗng nhiên nghe thấy những tiếng nói mà người
khác không nghe thấy, nhìn thấy những thứ mà những người khác không nhìn thấy
gì. Tôi thường nghe thấy có người nói bên tai tôi “Ánh trăng”, nhưng tôi chẳng
hiểu là gì, thường mơ thấy các hình ảnh thời cách mạng văn hóa ở Đại học Y số 2
Giang Kinh. Nên tôi bèn hỏi khắp mọi người xung quanh “Ánh trăng là gì? Nó có
liên quan gì đến Đại học Y Giang Kinh” Nhưng chẳng ai trả lời tôi, trái lại họ
đưa tôi vào viện này”. “Chị Du Tĩnh đã chết như thế nào? Có liên quan gì đến
bệnh của chị không?” “Không liên quan gì đến tôi. Nhưng cô ấy phải ra đi là
cái chắc”. Từ bình tĩnh, Dục Hồng chuyển sang bất an “Tại sao chị lại nói
thế?” “Cái tiếng nói kia, ngoài từ “ánh trăng” ra còn hay nhắc với tôi về
ngày 16 tháng 6. Tôi còn một giấc mơ mà chưa dám kể với ai...” “Đó là về một
cô gái áo trắng, một thứ âm nhạc rất hay, và một khuôn mặt nát bươm, phải không
ạ?” “Đại loại là thế, nhưng còn có một bóng người nhảy lầu, một chiếc đồng hồ
tây treo tường thường đổ chuông đúng 12h đêm”. “Thật khủng khiếp” Hình ảnh
người nhảy lầu và chiếc đồng hồ tây không xuất hiện trong những giấc mơ của Hinh
thì Hinh có nên thở phào không? “Tôi đã có linh cảm, thấy rằng ngày 16 tháng
6 có thể xảy ra chuyện. Khi Du Tĩnh vào thăm hỏi, tôi đã dặn bạn ấy rằng đêm ấy
không được ngủ ở phòng 405 mà phải tìm cách đi ngủ nhờ ở tầng 1. Tôi còn dặn bạn
ấy đừng nói chuyện này với bất cứ ai, nếu không cơ hội ra viện của tôi sẽ càng
xa vời. Ý nghĩ này thật hão huyền, nhất là với một bệnh nhân tâm thần! Nhưng tôi
thật sự lo lắng cho Du Tĩnh, người bạn rất thân của tôi. Đúng là bạn ấy tuy đã
giữ kín chuyện nhưng bạn ấy đã không chịu nghe lời khuyên của tôi”. “Chị đã
có linh cảm, tại sao năm sau chị lại cũng đi vào ngõ cụt như thế? Chị tự sát hay
sao?” “Tôi chẳng biết nữa, có lẽ là thế cũng nên. Trước khi chết, tôi mắc
chứng trầm cảm rất nặng nề, chắc là vì cái chết của Tĩnh đã khiến tôi suy sụp
chán nản. Tôi đang đi tìm hiểu xuất xứ của “ánh trăng” nhưng vẫn không có chút
tiến triển nào. Tôi cũng rất nản lòng. Tháng 4 tháng 5 năm đó tôi đã nằm viện,
đến cuối tháng 5 thì ra viện. Các sự việc tiếp theo thì cô đã biết rồi”. “Tại
sao lại có thể không biết về chuyện của mình? Tại sao chị lại kể với tôi những
điều này?” “Mọi chuyện mà số phận đã sắp đặt thì ta không thể nào làm thay
đổi được”. “Uông Lan San tại sao tôi phải tin bà nhỉ?” Hinh bỗng đưa tay ra
ấn nút chuông xin trợ giúp, nhưng tay cô cứ bất động giữa khoảng không và dừng
lại ở đó. Cô thở dài: “Bà San hãy về mà ngủ đi, tôi thấy mệt rồi”. “Tôi là
Tưởng Dục Hồng”. “Được! Dục Hồng, chị là người hiểu biết, tôi mệt, tôi muốn
đi ngủ”. Thì ra là lúc Dục Hồng giơ tay chỉ vào đầu mình, Hinh đã nhận ra bàn
tay khẳng khiu ấy không thể là tay của một cô gái trẻ, nên đoán ra là bà San
đang giở trò quái dị. Chị mặt sẹo tuy ác độc nhưng cái câu kia chị đã nói không
sai, dường như bà San nhất định không chịu buông tha Hinh. Tại sao bà ta cứ phải
làm thế? Chẳng lẽ đó chỉ là các trò quái quỷ ngẫu hứng của một bệnh nhân tâm
thần? Hinh chợt nảy ra ý nghĩ, mình không nên đánh động đến một người mắc chứng
nhân cách phân liệt đang chìm đắm trong một vai khác, chưa biết chừng có thể
thông qua bà ta để tìm hiểu rõ bối cảnh của “vụ án mưu sát 405” cũng
nên. Nhưng liệu có phải là “đùa với lửa tự thiêu mình”, để rồi sẽ bị rơi vào
nguy hiểm còn dữ dội hơn không? Bà San giơ tay che miệng ngáp dài, lúc này đã
lộ rõ vẻ mệt mỏi, không quấy nhiễu thêm nữa đứng dậy rồi quay đi. Đi được mấy
bước bỗng ngoảnh lại nói: “Tôi còn quên chưa nói với cô, mấy thanh niên học sinh
chúng tôi năm xưa nghịch ngợm ở vực sâu bên vách núi, đến năm 1978 chỉ mình tôi
còn sống”. Tiếng bước chân xa dần, Diệp Hinh mãi vẫn không sao ngủ được, hễ
nhắm mắt là lại hiện ra bóng mấy cô thanh niên học sinh - như những hồn ma đang
vật vờ ở vực sâu bên núi. Bà San nói là có ý gì vậy? Bà ta mắc chứng nhân cách
phân liệt, có thể mô phỏng rất giống ngôn ngữ cử chỉ của một ai đó, điều này
không có gì lạ, điều kỳ lạ là tại sao bà ta biết rõ mọi sự việc về Tưởng Dục
Hồng, các bí ẩn sâu kín của Dục Hồng cũng được bà ta miêu tả rất thật? Đương
nhiên, tất cả có thể chỉ là những chuyện bịa đặt cực khéo! Rất nhiều ý nghĩ
vụt lướt qua trong óc Diệp Hinh, cô lại thấy râm ran nhức đầu. Đúng là thân làm
tội đời. Từ sáng đến tối ở bên những nhân vật như chị mặt sẹo và bà San, mình
chưa phát điên đã là may rồi chứ còn có thể giải mã được điều bí hiểm gì nữa?
Nên nhân lúc này nghỉ ngơi một chút thì hơn, đúng là vừa rồi thần kinh đã quá
căng, cứ như là đang đi bên bờ vực thẳm, có thể sảy chân rơi xuống bất cứ lúc
nào. |
|
|
|
 |